phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương và 7 tiết. Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ, giữ gìn trị an ở miền Bắc (1954 -1964) Chương 2. Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ, giữ gìn trị an ở miền Bắc (1965 -1975) Chương 3. Nhận xét, đánh giá, bài học kinh nghiệm về phong trào quần chúng tham gia bảo vệ, giữ gìn trị an ở miền Bắc (1954-1975).
Phong trào quần chúng tham gia bảo vệ, giữ gìn trị an ở miền Bắc (1954-1964) 1. Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Bộ Công an. Hoàn cảnh lịch sử và tình hình an ninh trật tự Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế xã hội. Ở miền Nam, Mỹ hất cẳng Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, âm mưu tiến hành chia cắt nước ta lâu dài.
Những hoạt động chống đối, phá hoại của các thế lực thù địch đã khiến cho tình hình ANTT sau giải phóng ở miền Bắc thêm phức tạp. Mặc dù buộc phải rút quân, thực dân Pháp vẫn tiếp tục các hoạt động phá hoại, vi phạm các điều khoản đã ký kết, trì hoãn tập kết quân. Trong khi đó, Mỹ và Ngô Đình Diệm kích động, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào miền Bắc (nhất là đồng bào Thiên chúa giáo) di cư vào Nam; bí mật cài cắm gián điệp, thả biệt kích, kích động xưng vua, nổi phỉ. Một số tổ chức đảng phái phản động cũ, bọn tàn quân ngụy lén lút hoạt động khủng bố, cướp bóc,… Tình hình địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam diễn ra ngày một phức tạp và nghiêm trọng cả ở vùng mới giải phóng và vùng kháng chiến cũ.
Từ chỗ tổ chức từng đoàn nhỏ đi lẻ tẻ, chúng kích động bà con giáo dân tập trung hàng vạn người mít tinh, biểu tình đòi di cư. Không dừng ở đó, chúng còn gây ra bạo loạn chống lại chính quyền cách mạng. Nhiều nơi, bọn phản động tổ chức thanh niên theo đạo Thiên chúa, vũ trang rèn giáo mác, tự động canh gác làng, lập đội “Thanh niên quyết tử” chống đối chính quyền địa phương, gây ra nhiều vụ đánh cán bộ, bộ đội, có nơi biến thành những vụ bạo loạn như: ở Phát Diệm (Ninh Bình), Ba Làng (Thanh Hóa), Trù Sơn (Nghệ An)… Ngày 28/1/1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi chính thức thông qua chiến lược chiến tranh đặc biệt chọn miền Nam làm nơi thí nghiệm, lấy việc lập ấp 10 z chiến lược làm trọng tâm hòng dập tắt phong trào nổi dậy của nhân dân nơi đây, đồng thời ráo riết tiến hành phá hoại miền Bắc thông qua các hoạt động gián điệp. Chúng coi đó là một nội dung quan trọng cần triển khai nhanh chóng, có hiệu quả nhằm gây bất ổn về chính trị, suy yếu về kinh tế và quốc phòng, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, từng bước mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra cả nước.
Đế quốc Mỹ và tay sai thường xuyên tiến hành các hoạt động gián điệp hòng thu thập tình báo trên các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa phục vụ cho âm mưu phá hoại và gây chiến của chúng. Chúng sử dụng nhiều phương thức thâm nhập vào miền Bắc như: thông qua đường giới tuyến Vĩnh Linh, đường biên giới Việt – Lào, đường hồi hương Việt Kiều, đường biển với nhiều hình thức khác nhau khi thì lợi dụng hình thức công khai hợp pháp, khi thì bí mật thâm nhập bất hợp pháp. Gián điệp ẩn nấp miền Bắc ngoài một số tên là người Việt Nam còn có những phần tử trong Hoa kiều và ngoại kiều các nước tư bản. Mục đích của hoạt động tung gián điệp, biệt kích này là nhằm liên lạc với các phần tử phản cách mạng ở miền Bắc, tăng cường hoạt động điều tra, phá hoại, ám sát cán bộ, gây những khu vực phỉ quấy rối, lợi dụng tình hình miền Bắc còn một số khó khăn để kích động quần chúng lạc hậu chống lại Chính phủ.
Những tác động bên ngoài cùng với những âm mưu chống phá chính quyền của các thế lực thù địch bên trong đã khiến cho tình hình ANTT ở miền Bắc càng trở nên phức tạp hơn. Đầu năm 1957, lợi dụng những khó khăn của Đảng, Nhà nước khi đang tập trung sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất, các phần tử phản động ngóc đầu dậy, tập hợp lực lượng, tiến hành chống phá chính quyền cách mạng. Ở miền núi, bọn biệt kích, bọn trùm phỉ gây ra các vụ xưng vua, bạo loạn ở Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Nghĩa Lộ, Nghệ An,…Ở vùng tập trung đồng bào theo Công giáo, bọn phản động kích động phá hoại, có nơi đã gây ra các vụ đánh giết cán bộ, rào làng, gây rối,…Ở Hà Nội và các tỉnh lân cận một số văn nghệ sỹ bất mãn lập nhóm “Nhân văn giai 11 z phẩm” chống phá cách mạng gây không ít những khó khăn cho công tác giữ gìn, bảo vệ trị an. Không chỉ có vậy, trước khi rút khỏi miền Bắc thực dân Pháp đã thả hết số lưu manh, tội phạm hình sự ở các trại do chúng bắt, giam giữ (chỉ riêng ở Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An chúng đã thả 326 tên lưu manh).
Bọn lưu manh được thả nhanh chóng cấu kết với bọn lưu manh ngoài xã hội gây ra nhiều vụ phạm pháp như: giết người, cướp của, giả danh bộ đội để tống tiền, giả mạo cán bộ để lừa đảo,…gây rối trật tự trị an. Cùng với đó là những hậu quả của chiến tranh và chế độ thực dân phong kiến cũ để lại mà nhiều tệ nạn xã hội phát triển, lan rộng nhất là tình trạng buôn bán thuốc phiện, cờ bạc, nấu rượu lậu.Bọn tội phạm hình sự lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý để hoạt động tham ô, buôn lậu, trộm cắp gây thiệt hại tài sản Nhà nước, tính mạng, tài sản của nhân dân. Chỉ tính riêng năm 1964 tại Vĩnh Phú qua kiểm tra 111 hợp tác xã đã phát hiện 3220 vụ tham ô. Trong 10 năm 1955 – 1964 đã phát hiện 4372 vụ tham ô gây thiệt hại xấp xỉ 45 triệu đồng (tiền ngân hàng năm 1958), với 5297 cán bộ nhân viên phạm tội [21, 26].
Nhiều vụ tham ô với thủ đoạn táo bạo, trắng trợn như: tham ô rồi đốt nhà, đốt kho để phi tang, làm giả giấy tờ gây không ít những khó khăn cho công tác điều tra của lực lượng Công an. Có thể nói, cùng với những âm mưu, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhằm phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, những thay đổi về kinh tế, xã hội từ thời chiến chuyển sang thời bình đã đặt ra yêu cầu cấp thiết của nhiệm vụ giữ gìn ANTT ở miền Bắc. Lực lượng Công an đứng trước nhiều khó khăn thử thách, gánh vác những trọng trách lớn lao: bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân, giữ vững thế trận an ninh vững chắc để miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam. Trong hoàn cảnh đó, những thắng lợi cơ bản trong cải cách ruộng đất, cải tạo XHCN, khôi phục kinh tế góp phần cải thiện đời sống nhân dân, củng 12 z cố thế trận an ninh quốc phòng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã họp và xác định nhiệm vụ cách mạng cho từng miền. Để miền Bắc trở thành hậu phương của cách mạng cả nước, Đảng nhấn mạnh yêu cầu cần phải đẩy mạnh công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội để mau chóng tạo ra một cuộc sống mới cho nhân dân, làm cho miền Bắc phát huy được đầy đủ tính hơn hẳn của nó so với miền Nam, trở thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, miền Bắc tiến hành kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) và đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần củng cố an ninh chính trị, TTATXH, đảm bảo yêu cầu, nhiệm vụ chi viện cho chiến trường, cổ vũ nhân dân miền Nam đứng lên, đánh bại chiến lược chiến tranh kiểu mới của đế quốc Mỹ. Những chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội miền Bắc từ thời chiến sang thời bình tác động không nhỏ tới công tác bảo vệ, giữ gìn ANTT của lực lượng Công an.
Trong khi đó thế lực thù địch, phản cách mạng, các loại tội phạm hình sự, kinh tế,…luôn tìm cách móc ngoặc liên kết với nhau nhằm phá hoại, gây bất ổn về chính trị, kìm hãm sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhiệm vụ của lực lượng Công an lúc này là phải bóc gỡ hết mạng lưới hậu chiến của địch cài lại, thiết lập trật tự cách mạng trên toàn miền Bắc, đảm bảo an ninh toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Để thực hiện được điều đó, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo Bộ Công an nhanh chóng, kịp thời thực hiện các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài, đấu tranh để giữ vững sự ổn định về ANTT trong đó nhấn mạnh tới việc phát huy hơn nữa vai trò phát động quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh chống phản cách mạng và các loại tội phạm khác. Đường lối, chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Bộ Công an Đầu tháng 9/1954, Bộ Chính trị, TW Đảng đã họp, ra Nghị quyết xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Nghị quyết đã nêu bật 2 đặc điểm lớn lúc này là: “Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình và đất nước tạm chia làm 2 miền”. Từ đó đề ra nhiệm vụ chung là: 13 z “Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, đề phòng âm mưu phá hoại hiệp định của địch, củng cố hòa bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, củng cố miền Bắc”[1, 9]. Nghị quyết của Bộ Chính trị chính là cơ sở ban đầu để lực lượng Công an đoàn kết toàn dân thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các âm mưu phá hoại của địch, nhanh chóng ổn định ANTT trên toàn miền Bắc.