phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng số tại ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng số tại Vietcombank Chi nhánh Sở giao dịch Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng số tại vietcombank chi nhánh sở giao dịch 7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ 1. Khái niệm Kinh tế số đã và đang là một xu hƣớng khách quan và tất yếu của kinh tế thế giới nhờ những thành tựu công nghệ đột phá trong những năm gần đây. Nhiệm vụ phải ứng dụng hiệu quả, nhanh chóng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với mọi nền kinh tế, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển nếu không muốn bị bỏ lại phía sau quá xa trong quá trình hội nhập.
Trong một nền kinh tế số hiệu đại, những mô hình kinh doanh mới sẽ xuất hiện, tồn tại song hành với các mô hình truyền thống để hỗ trợ hoặc cạnh tranh hoặc thậm chí là xóa sổ những mô hình này dựa trên những ƣu thế về chi phí, thời gian, sự hiệu quả và trải nghiệm khách hàng vƣợt trội nhờ ứng dụng công nghệ thông tin. Lĩnh vực ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ, sự xuất hiện của các ngân hàng số trên toàn cầu đã và đang tạo ra một làn sóng mới trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính, ngân hàng với chi phí rẻ hơn, tiết kiệm thời gian và công sức hơn, trở thành một đối thủ tiềm năng, sẵn sàng cạnh tranh sòng phẳng với các ngân hàng truyền thống và cũng là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong toàn bộ hệ thống tài chính ngân hàng. Thuật ngữ ngân hàng số không phải là mới trên thế giới khi DBS Bank có trụ sở chính tại Singapore đƣợc cho là ngân hàng số đầu tiên trên thế giới đã đƣợc thành lập cách đây gần nửa thế kỷ. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ và sự chuyển đổi của các sản phẩm tài chính, ngân hàng thì khái niệm này cũng liên tục biến đổi, đôi khi có sự trùng lặp, chồng chéo với nhiều khái niệm khác nhƣ “ngân hàng tự động”, “ngân hàng trực tuyến” hay phổ biến nhất là “ngân hàng điện tử”.
Khái niệm ngân hàng số có thể đƣợc 8 định nghĩa dƣới nhiều góc độ, từ những nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực ngân hàng, các ngân hàng thƣơng mại thực hiện chức năng kinh donah tiền tệ, các nhà nghiên cứu kinh tế và cả từ góc độ của khách hàng. NHTW Philippines là ngƣời tiên phong luật hóa khái niệm ngân hàng số nhƣ trong Khuôn khổ giám sát ngân hàng , theo đó “Ngân hàng số cung cấp sản phẩm và dịch vụ tài chính từ đầu tới cuối thông qua một nền tảng số hoặc/và các kênh điện tử mà không có chi nhánh/ đại lý vật lý”1. Một ví dụ khác là NHTW Singapore đã quy định hai khái niệm “ngân hàng số hoàn toàn” và “ngân hàng số bán buôn” là những tổ chức cung cấp các dịch vụ ngân hàng nhƣ nhận tiền gửi, cho vay và đầu tƣ thông qua nền tảng trực tuyến. Một quan điểm khác định nghĩa ngân hàng số xét về cốt lõi là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính, ngân hàng hàng hay có thể hiểu rằng ngân hàng số về cơ bản là một "nền tảng ngân hàng trực tuyến" (online banking platform) hoặc "nền tảng ngân hàng di động" (mobile banking platform).
Cũng có định nghĩa hiện đại về ngân hàng số là mô hình kinh doanh mới trong kỷ nguyên ngân hàng điện tử hỗ trợ đa dạng hóa, cá nhân hóa và tiện ích hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trực tuyến thông qua ứng dụng các công nghệ kĩ thuật số, các tƣơng tác truyền thông xã hội và các giải pháp thanh toán hiện đại, tập trung vào tăng cƣờng trải nghiệm mới và thỏa mãn của ngƣời dùng. Không có cơ sở nào để khẳng định khái niệm nào mới là đúng nhất nhƣng nếu đứng trên góc nhìn tổng quát và trung lập nhất, có thể tổng kết ngắn gọn về khái niệm “ngân hàng số là tổ chức được cấp phép cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng như nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư hoàn toàn thông qua các nền tảng số”. Ngân hàng số trƣớc hết vẫn là một ngân hàng hợp pháp, có giấy phép kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ tài chính ngân hàng tƣơng tự nhƣ các ngân 1 Banking regulation framework - BSP 9 hàng truyền thống nhƣng đƣợc thực hiện hoàn toàn trên các nền tảng số, không có các chi nhánh kinh doanh và không giao tiếp với khách hàng chủ yếu thông qua tiếp xúc vật lý. Nhƣ đã trình bày ở trên, có quan điểm cho rằng ngân hàng số chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ, sản phẩm tài chính, ngân hàng trên nền tảng di động hoặc trực tuyến nhƣng nhƣ thế là đang bỏ qua nhiều chức năng khác cũng đƣợc xử lý thông qua hệ thống số.
Các quy trình, thủ tục nội bộ đƣợc hỗ trợ xử lý tự động, các nghiệp vụ trƣớc đây đƣợc thực hiện thủ công nhƣ quản lý rủi ro, chấm điểm tín dụng khách hàng, điều chuyển ngân quỹ, thực hiện các báo cáo định kỳ gửi cơ quản quản lý … ở nhiều các cấp độ trung gian và cuối cùng, hỗ trợ cho việc kinh doanh của ngân hàng an toàn, không gián đoạn và đạt hiệu quả cao. Với việc tinh giản tối đa các tiếp xúc vật lý và thủ công, ngân hàng số thể hiện đƣợc sự vƣợt trội trong tốc độ xử lý công việc, tăng tính chính xác và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng theo thời gian thực, không bị giới hạn không gian và khoảng cách so với các ngân hàng truyền thống. Các phƣơng thức hoạt động của ngân hàng số Ngân hàng số bán lẻ: Tƣơng tự nhƣ mục đích của các ngân hàng bán lẻ truyền thống, ngân hàng số bán lẻ hƣớng tới việc cung cấp đầy đủ các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng tới các đối tƣợng khách hàng cá nhân, doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ thông qua các nền tảng trực tuyến. Mô hình ngân hàng số này bao gồm các dịch vụ cơ bản nhƣ chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, quy đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngân hàng truyền thống nhƣ gửi tiết kiệm, thực hiện các khoản vay tiêu dùng, mua bảo hiểm … hoàn toàn trên các nền tảng số.
Ngân hàng số dịch vụ (Banking as a service): Đây là mô hình đã tồn tại với những ngân hàng truyền thống nhƣng với ngân hàng số, nó đƣợc nâng cấp lên một phiên bản hiện đại hơn và ƣu việt hơn. Các ngân hàng đƣợc phân quyền tích hợp trực tiếp các dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số của họ vào việc thanh toán các sản phẩm của các doanh nghiệp phi ngân hàng khác. Hệ thống 10 công nghệ thông tin của ngân hàng giao tiếp thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API) và webhook với hệ thống công nghệ thông tin của doanh nghiệp, cho phép khách hàng truy cập các dịch vụ ngân hàng trực tiếp khi phát sinh nhu cầu về các sản phẩm liên quan thông qua chính trang web hoặc ứng dụng của doanh nghiệp. Ngân hàng số nền tảng (Banking as a platform): Ngƣợc lại với mô hình ngân hàng số dịch vụ, ngân hàng số nền tảng cho phép các doanh nghiệp khác tích hợp các sản phẩm, dịch vụ khác, chủ yếu là của các fintech, trên các kênh giao tiếp của ngân hàng nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều lựa chọn về sản phẩm hơn trong cùng một tài khoản ngân hàng.
Mô hình ngân hàng nền tảng cho phép các ngân hàng số vừa có thể tập trung vào giá trị cốt lõi của mình là cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng cho khách hàng trong khi vẫn đảm bảo một trải nghiệm toàn diện, tiện ích cho khách hàng đối với các dịch vụ, sản phẩm khác liên quan, tăng cƣờng tính liên kết giữa khách hàng và ngân hàng thông qua một tài khoản ngân hàng đa tiện ích. Đặc điểm của ngân hàng số Cấu trúc vận hành số: Cấu trúc vận hành số là đặc điểm nổi bật nhất của các ngân hàng số khi ngân hàng vận hành hoàn toàn trên các nền tảng số bởi hệ thống công nghệ thông tin. Cấu trúc số không có nghĩa là ngân hàng hoàn toàn từ bỏ các tiếp xúc vật lý khi các đại lý bán hàng vẫn sẽ có vai trò đáng kể trong mở rộng nhận diện thƣơng hiệu và hỗ trợ khách hàng khi cần thiết. Các điểm bán hàng này cũng không phải là các chi nhánh vì chúng không đại diện cho ngân hàng thực hiện giao dịch với khách hàng.
Cấu trúc số cũng là mang lại lợi thế vô cùng đáng kể khi xem xét trên khía cạnh chi phí vận hành. Thông thƣờng, một ngân hàng truyền thống vận hành trên nền tảng các chi nhánh, đại lý, phòng giao dịch và hệ thống nhân viên rất lớn khiến cho các chi phí liên quan nhƣ chi phí thuê mặt bằng, chi phí khấu hao máy móc thiết bị và chi phí nhân công trở luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi 11 phí vận hành của ngân hàng. Trái lại, để vận hành một ngân hàng số, điều kiện cần và đủ là một hệ thống công nghệ thông tin vận hành trơn tru, an toàn hay nói 1 cách hoa mỹ nhƣ Jack Ma là chỉ cần “vài máy chủ”. Do đó, chi phí vận hành của ngân hàng số là rất nhỏ, tạo điều kiện trong việc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng với giá cạnh tranh hơn nhiều, nếu nhƣ không muốn nói là những mức giá mà các ngân hàng truyền thống không thể nghĩ tới với chi phí vận hành khổng lồ.
Vận hành trên nền tảng thông tin: Trong các mô hình kinh tế số, thông tin là một nguồn lực đầu vào vô cùng quan trọng, tƣơng tự nhƣ vốn và lao động trong các hoạt động sản xuất kinh doanh truyền thống. Càng có nhiều thông tin về khách hàng, các ngân hàng số càng vẽ ra đƣợc bức tranh chi tiết và chính xác về tình hình tài chính của khách hàng. Với sự giúp đỡ của công nghệ dữ liệu lớn và máy học, thông tin về khách hàng đƣợc lƣu trữ, phân tích và xử lý theo thời gian thực, từ đó cập nhật tình hình khách hàng cũng theo thời gian thực, vƣợt xa tần suất cập nhật thủ công định kỳ, rời rạc của các ngân hàng truyền thống.