phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ NHBL của NHTM Chƣơng 2: Thực trạng mức độ phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NH TMCP Đầu tƣ và phát triển Hòa Bình Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP đầu tƣ và phát triển Hòa Bình 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHBL CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Ngân hàng thƣơng mại và dịch vụ ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt với lĩnh vực kinh doanh là tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ tài chính ngân hàng. Hoạt động của NHTM chịu sự chi phối lớn của chính sách tiền tệ của NHTW. Theo định nghĩa của Luật ngân hàng Mỹ: ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng định nghĩa “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Phân loại ngân hàng 1.1 Phân loại dựa vào hình thức sở hữu: 6 Dựa vào hình thức sở hữu, các NHTM đƣợc chia ra thành các loại gồm: ngân hàng thƣơng mại quốc doanh, ngân hàng thƣơng mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100 vốn nƣớc ngoài, ngân hàng tƣ nhân: Ngân hàng thƣơng mại quốc doanh: là ngân hàng đƣợc thành lập từ vốn thuộc Ngân sách Nhà nƣớc, là trụ cột của nền kinh tế. Ở Việt Nam, ban đầu những ngân hàng này là những ngân hàng chuyên doanh, đến năm 1992 thì đổi tên và trở thành ngân hàng kinh doanh đa năng.
Ví dụ nhƣ: ngân hàng NN & PTNT Việt Nam, NH TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam,… Ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn (TMCP): là ngân hàng đƣợc thành lập từ vốn góp của các cổ đông, kinh doanh đa năng. Hệ thống ngân hàng TMCP bao gồm hai loại: ngân hàng TMCP đô thị và ngân hàng TMCP nông thôn. Hiện nay, tất cả các NHTM tại Việt Nam đều là ngân hàng TMCP và đƣợc thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Ví dụ: ngân hàng TMCP SeaBank, Ngân hàng TMCP ACB, ngân hàng TMCP SacomBank, ngân hàng TMCP Techcombank Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng do các bên liên doanh góp vốn, tỷ lệ đóng góp của các đối tác nƣớc ngoài không quá 50 vốn điều lệ.
Ví dụ: Ngân hàng liên doanh ShinhanVina, Ngân hàng liên doanh Indovina, Ngân hàng liên doanh Việt Nga,. Ngân hàng 100 vốn nƣớc ngoài: là ngân hàng đƣợc thành lập theo pháp luật Việt Nam do chủ sở hữu nƣớc ngoài cấp 100% vốn; đƣợc quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng cho thị trƣờng Việt Nam; thời gian hoạt động không vƣợt quá 99 năm. Ví dụ: ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam… Ngân hàng tƣ nhân: Do cá nhân thành lập bằng vốn của cá nhân đó. Loại hình ngân hàng này thƣờng nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp; thƣờng có mối quan hệ tốt với khách hàng.
Tuy nhiên, loại hình ngân hàng tƣ nhân theo cách tiếp cận này chƣa xuất hiện tại Việt Nam 7 1.2 Phân loại dựa vào chiến lƣợc kinh doanh Dựa vào chiến lƣợc kinh doanh các NHTM đƣợc chia ra thành ngân hàng thƣơng mại bán buôn, ngân hàng thƣơng mại bán lẻ, ngân hàng thƣơng mại vừa bán buôn vừa bán lẻ. Ngân hàng thƣơng mại bán buôn: là NHTM tập trung nhắm đến đối tƣợng khách hàng là các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các xí nghiệp lớn. Danh mục sản phẩm ngân hàng loại này cung cấp cho khách hàng thƣờng không đa dạng tuy nhiên giá trị của từng giao dịch thƣờng là rất lớn. Ngân hàng thƣơng mại bán lẻ: là ngân hàng tập trung khai thác nhóm đối tƣợng khách hàng là cá nhân hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ngân hàng loại này thƣờng chú trọng đến việc đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng đƣợc các nhu cầu của nhiều khách hàng. Tuy giá trị của từng sản phẩm không lớn nhƣng bù lại là một lực lƣợng khách hàng rất lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa. Ngân hàng thƣơng mại vừa bán buôn, vừa bán lẻ: Là ngân hàng thực hiện song song cả hai hoạt động bán buôn và bán lẻ.
Ngân hàng này nhắm vào tất cả các dạng khách hàng từ cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến các tổng công ty, các tập đoàn lớn. Ví dụ: Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (Seabank) 1. Dịch vụ ngân hàng thƣơng mại Theo thông lệ quốc tế, dịch vụ ngân hàng là khái niệm rất rộng, bao gồm tất cả các hoạt động ngân hàng của một tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng trên thị trƣờng vì mục tiêu lợi nhuận 8 Ở nƣớc ta còn có một số quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng. Một số ý kiến cho rằng, các hoạt động sinh lời của ngân hàng thƣơng mại ngoài hoạt động cho vay thì đƣợc gọi là hoạt động dịch vụ.
Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng, một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các NHTM Việt Nam, với hoạt động dịch vụ, một hoạt động mới bắt đầu phát triển ở nƣớc ta. Sự phân định nhƣ vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trƣờng dịch vụ tài chính hiện này cho phép ngân hàng thực thi chiến lƣợc tập trung đa dạng hoá, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng. Còn quan điểm thứ hai thì cho rằng, tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thƣơng mại đều đƣợc coi là hoạt động dịch vụ. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán trong quá trình gia nhập, phù hợp với nội dung Hiệp định thƣơng mại Việt – Mỹ. Trong phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng là ngành đƣợc phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ. Qua đó có thể định nghĩa dịch vụ ngân hàng nhƣ sau: Dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu theo thông lệ quốc tế đó là toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng bao gồm các hoạt động về vốn, tiền tệ, thanh toán…. nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và vì mục tiêu lợi nhuận.
Dựa theo cách thức cung cấp dịch vụ, ta có thể chia dịch vụ ngân hàng thành hai loại là: Bán buôn Dịch vụ ngân hàng Bán lẻ dịch vụ ngân hàng 9 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng không chỉ bao gồm các sản phẩm tín dụng mà còn bao gồm cả các sản phẩm phi tín dụng nhƣ các dịch vụ thanh toán. Mặt khác số lƣợng sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất lớn ( Theo một số nhà nghiên cứu, trên thế giới có khoảng 6.000 sản phẩm, ở Việt Nam có khoảng 200-300 sản phẩm). Do vậy, việc đƣa ra một số tiêu chí cụ thể để xác định chính xác những sản phẩm nào thuộc bán buôn, sản phẩm nào thuộc bán lẻ là rất khó. Tuy nhiên, chúng ta có thể dựa vào đặc trƣng tiêu biểu, tƣơng tự nhƣ bán buôn và bán lẻ các loại hàng hóa thông thƣờng khác để nhận diện và phân loại.
Với các thức nhƣ vậy có thể coi Bán buôn dịch vụ ngân hàng là cách thức bán sản phẩm thông qua các trung gian tài chính (các NHTM, các quỹ đầu tƣ,.) hoặc thông qua thị trƣờng tài chính ( nhƣ thị trƣờng tiền tệ liên ngân hàng để cho vay, thanh toán bù trừ,.) và đối với các công ty, các tập đoàn kinh tế với với những gói sản phẩm giá trị lớn. Bán lẻ dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là những hình thức bán trực tiếp đến các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số gói sản phẩm nhỏ lẻ đối với công ty và tổ chức kinh tế lớn. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1.
Khái niệm Thuật ngữ NHBL chính là Retail Banking (tiếng anh) - nghĩa là cung cấp các sản phẩm dịch vụ đến tận tay ngƣời tiêu dùng với số lƣợng nhỏ. Cần hiểu đúng nghĩa của bán lẻ là hoạt động của phân phối, trong đó là triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại - mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trƣờng, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ. Bán lẻ ngày càng phát triển sang lĩnh vực xuyên quốc gia.
10 Hiện nay có nhiều khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo các chuyên gia của Học viện Công nghệ Châu Á - AIT thì “Dịch vụ bán lẻ là việc ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ của mình tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc là KH có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện CNTT, điện tử viễn thông”.