đặt vấn đề, bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu của dé tài, phạm vi nghiên cứu của dé tài và cuối cùng là kết quả đạt được của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày các thách thức liên quan đến bài toán phát hiện đối tượng nhỏ và sau đó là các nghiên cứu liên quan cho bài toán này. Chương 3: Đánh giá thực nghiệm.
Trình bày các thông tin liên quan việc thiết lập thực nghiệm và các tập dữ liệu được chọn cho việc đánh giá các phương pháp. Chương 4: Kết quả thực nghiệm và phân tích. Trình bày và phân tích các kết quả mà học viên đạt được thông qua quá trình thực nghiệm. Chương 5: Kết luận và hướng phát triển.
Trong chương này, học viên tóm tắt nội dung đã đạt được và đưa ra hướng phát triển tiếp theo.php?q=21100197510stip=sid 8 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYET Trong chương này, học viên trình bày các thách thức liên quan đến bài toán phát hiện đối tượng nhỏ và sau đó là các nghiên cứu liên quan cho bài toán này. Thách thức bài toàn phát hiện đối tượng nhỏ Nhìn chung có rất nhiều vấn đề liên quan đến các thách thức mà bài toàn phát hiện đối tượng cần phải giải quyết. Mặc dù bài toán phát hiện đối tượng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưng sau khoảng thời gian thực hiện thì các thách thức chỉ mới giải quyết được ở mức độ nhất định.
Cụ thể, tập dữ liệu COCO được đánh giá dựa trên 3 tỉ lệ đối tượng là lớn, trung bình và nhỏ từ đó đã tạo ra thách thức về độ chính xác liên quan đến các tỉ lệ khác nhau, đặc biệt là phát hiện đối tượng có kích thước nhỏ. Các phương pháp hiện tại chủ yếu đạt được độ chính xác cao đối với tỉ lệ đối tượng là lớn và trung bình mà chưa thực sự tập trung vào đối tượng nhỏ. Do đó, trong ngữ cảnh phát hiên đối tượng có kích thước nhỏ thì rất khó cho các nhà nghiên cứu bởi vì ngoài các thách thức phổ thông tổn tại trong bài toán phát hiện đối tượng thì họ còn phải giải quyết các thách thức liên quan đến phát hiện đối tượng có kích thước nhỏ. Bên cạnh đó các định nghĩa về đối tượng có kích thước nhỏ chưa thực sự rõ ràng, việc định nghĩa này phụ thuộc vào tập dữ liệu cũng như mục đích đề xuất của từng công trình khoa học.
Phần nội dung được trình bày sau đây sẽ làm rõ các vấn đề này.11 Thểhiện nhỏ Thể hiện nhỏ ở đây có thể hiểu là đối tượng quan tâm được biểu diễn trong ảnh với kích thước nhỏ tức có số lượng điểm ảnh dùng để biểu diễn cho đối tượng là giới hạn ở một mức độ nhất định. Như đã đề cập, bài toán phát hiện đối tượng nhỏ gần đây được xem là một van dé thu hút nhiều quan tâm bởi vi bản thân bài toàn này có nhiều thách thức thú vị với các nhà nghiên cứu và khả năng ứng dụng của bài toán này vào. Đầu tiên, khả năng xuất hiện của các đối tượng có kích thước nhỏ thì cao hơn so với các đối tượng có kích thước khác trong dữ liệu ảnh đầu vào. Bat cứ vị trí nào của ảnh cũng có thể là đối tượng nhỏ bởi vì sự giống nhau về thể hiện bên CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYET ngoài giữa các đối tượng, thậm chí là giữa đối tượng nhỏ và với ảnh nền. Bên cạnh đó, bởi vì các đối tượng có kích thước nhỏ nên dẫn đến sự thật là các bộ phát hiện đối tượng gặp khó khăn khi phải xác định vị trí của các đối tượng này giữa nhiều đối tượng khác nằm xung quanh chúng hoặc thậm chí là cùng kích thước và thể hiện bề ngoài. Điều này thực sư gây ra các khó khăn nhất định khi phải phân biệt các đối tượng có kích thước nhỏ từ ảnh nền có nội dung lộn xộn. Bởi các điểm ảnh để thé hiện thông tin thị giác cho các đối tượng có kích thước nhỏ thì ít hơn nhiều so với các đối tượng có kích thước lớn khác.
Nói cách khác là sẽ có ít sư thể hiện có nhiều thông tin hỗ trợ cho các bộ phát hiện thực hiện nhiệm vụ của nó. Bên cạnh đó, các đặc trưng phân biệt thể hiện cho các đối tượng nhỏ trong ảnh thì dễ bị ảnh hưởng, thâm chí là mất dần dần sau khi phải đi qua các lớp của mạng học sâu như lớp tích chập hoặc lớp chiết xuất đặc trưng. Ví dụ, trong VGG16 thì nếu đối tượng quan tâm được thể hiện bằng 32 x 32 điểm ảnh, nó sẽ có kích thước khoảng 1 điểm ảnh sau khi đi qua khối chiết xuất thông tin 5 lần. Kết quả là việc tìm kiếm vét cạn bằng các cửa SỐ trượt | hoặc tăng số lượng các khung dé xuất đối tượng như selective search [14] có khả năng là không khả khi để cho ra kết quả tốt.
Một vài mẫu về đối tượng có kích thước được trình bày trong Hinh|I.2 Các khái niệm về đối tượng có kích thước nhỏ Van dé đặt ra đối với bài toán phát hiện đối tượng nhỏ là làm sao xác định như thé nào là đối tượng có kích thước nhỏ hoặc số lượng điểm ảnh mà các đối tượng này được thể hiện trong ảnh. Việc này gây ra các khó khăn nhất định và sẽ khác nhau khi chung ta xét chung các đối tượng trên ảnh có độ phân giải cao hoặc độ phân giải thấp. Ví dụ, một đối tượng được xem là đối tượng nhỏ bởi vì nó chỉ được thể hiện bằng một phan ảnh với kích thước 400 x 400 trên ảnh 2048 x 2048 nhưng sẽ là rất lớn trên ảnh 500 x 500. Do đó, nó gây ra các khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi một tập dữ liệu có nhiều ảnh với các kích thước ảnh đa dạng có độ phân giải chênh lệch lớn.
Cho đến hiện tại, có một vài định nghĩa về đối tượng có kích thước nhỏ và các định nghãi này chưa được rõ ràng hoàn toàn. Nó phụ thuộc vào tập dữ liệu mà được sử dụng cho việc đánh giá và đặc trưng thể hiện của các đối tượng được quan tâm. Do đó để thực hiện việc phát hiện các đối tượng có kích thước nhỏ, các 10 2. TAP DU LIỆU VÀ CÁC HƯỚNG TIẾP CAN nhà nghiên cứu tự định nghĩa các điều kiện khác nhau cho các tập dữ liệu khác nhau thay vì chỉ dựa trên kích cỡ của các khung bao đối tượng mà chứa các đối tượng để xác định liệu đối tượng đang xét có kích thước nhỏ hay không.
Ví dụ, Zhu và cộng sự [21] cho rằng đối tượng có kích thước nhỏ là các đối tượng mà kích thước của nó chỉ chiếm 20% diện tích của ảnh khi công bố tập dữ liệu về biển báo giao thông. Nếu biển báo giao thông có kích thước là hình vuông, nó được xem là đối tượng có kích thước nhỏ khi chiều rộng của khung bao đối tượng nhỏ hơn 20% của ảnh và chiều cao của khung bao đói tượng không quá chiều cao của ảnh. Trong công trình 22), Torralba và cộng sự cho rằng đối tượng có kích thước nhỏ sẽ chiếm ít hơn hoặc bằng 32 x 32 điểm ảnh. Trong tập dữ liệu các đối tượng có kích thước nhỏ [ đối tượng được xem là có kích thước nhỏ khi chúng có tỉ lệ chồng lắp giữa diện tích khung bao đối tượng của chúng với diện tích của ảnh từ 0.58%, một cách tương ứng từ 16 x 16 đến 42 x 42 điểm ảnh trong ảnh VGA.
Trong luận văn này, học viên sử dụng lại các định nghĩa về các đối tượng nhỏ đã trình bày, đặc biệt là các định nghĩa từ các công trình | | như là các nguồn tham khảo chính bởi vì các định nghĩa này có độ tin cậy cao và được chấp nhận sử dụng một cách rộng rãi bởi ác nhà nghiên cứu.2 Tập dữ liệu và các hướng tiếp cận Tại thời điểm học viên thực hiện nghiên cứu này thì có ít công trình tập trung vào. giải quyết các van đề liên quan đến đối tượng có kích thước nhỏ, và điều này dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận đến với các kiến thức liên quan để đưa ra một nghiên cứu toàn diện do sự giới hạn của các công trình. Các phương pháp tiếp cận trước đó chủ yếu tập trung vào đối tượng có kích thước lớn mà chưa thực sự quan tâm nhiều sự có mặt của đối tượng có kích thước nhỏ. Do đó, hiệu suất hiện tại mà các phương pháp đã giải quyết các thách thức liên quan đến bài toán phát hiện đối tượng nhỏ chưa được trình bày một cách rõ ràng.
Đây là một trong các lý do mà học viên thực hiện vị iệc đánh giá hiệu xuất của các mô hình phát hiện đối tượng tiên tiến hiện nay để đưa ra được cái nhìn sơ khởi về khả năng giải quyết thách thức cho bài toán phát hiện đối tượng nhỏ. Trong ngữ cảnh bài toán phát hiện đối tượng có kích thước nhỏ, có vài công trình 11 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYET liên quan đến bài toán này. Cho đến hiện tại, hầu hết các công trình chỉ phát hiện một loại đối tượng thuộc vào một lớp đồi tượng cu thể như biển báo giao thông [21].
phương tiện di chuyển [23| [24] 25] hoặc người di bi Các tập dữ liệu không phải là các tập dữ liệu mà chứa nhiều đối tượng thuộc nhiều lớp khác nhau trong đời sống. Điều này dẫn đến việc thiéu hụt cho việc đánh giá khách quan các hướng tiếp cận để thể hiện khả năng phát hiện các đối tượng khác nhau và có độ đa dạng về hình dáng bên ngoài. Tuy nhiên, Chen cùng cộng sự [19] công bố tập dữ liệu dành cho bài toán phát hiện đối tượng nhỏ bằng cách kết hợp tập dữ liệu COCO va SUN [27], cuối cùng tap dữ liệu dé xuất có chứa 10 lớp phổ biến như “mouse,” “telephone,” “switch,” “outlet,” “clock,” “tissue box,” “faucet,” “plate,” and “jar”. Chen cũng tăng cường mô hình RCNN với một số điều chỉnh dé cải thiện hiệu xuất phát hiện đối tượng nhỏ.
Theo ý tưởng này, học viên tiến hành khảo sát các tập dữ liệu hiên tại và học viên thấy rằng PASCAL VOC có điểm chung với COCO và SUN có chứa các đối tượng có kích thước nhỏ với nhiều lớp đối tượng khác nhau.