CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Khái quát về hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân Khái niệm Theo quy định của pháp luật, cụ thể tại khoản 14 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH năm 2017 về hợp nhất Luật Các tổ chức tín dụng quy định rằng: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, cho vay được coi là một trong những nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM.
Theo quy định pháp luật, hoạt động cho vay của NHTM được định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.” KHCN là cá nhân có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Chủ yếu, đối tượng yêu cầu vay vốn thường sử dụng vốn vay vào mục đích mua nhà, vay sửa nhà, vay kinh doanh, vay mua xe, du học, hay tiêu dùng cơ bản cần thiết khác. Như vậy: Cho vay KHCN được hiểu là một trong những hoạt động tín dụng của NHTM. Khi đó, ngân hàng sẽ tài trợ vốn cho đối tượng là KHCN phục vụ việc sản xuất kinh doanh, hay thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng khác trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết.
Đặc điểm Thứ nhất, quy mô mỗi khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn 5 So với việc cho vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản vay cá nhân không lớn. Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải. Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn.
Thứ hai, cho vay KHCN có chi phí lớn nhất trong danh mục các khoản vay của ngân hàng Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ, thậm chí không đáng kể song số lượng khoản vay lại rất lớn. Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ. Thứ ba, các khoản vay có mức lãi suất cao KHCN thường ít quan tâm đến lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng.
Do đó, khác với hầu hết các khoản cho vay kinh doanh lãi suất được điều chỉnh theo thị trường, lãi suất cho vay KHCN thường được ấn định tại một mức nhất định. Đối với các khoản cho vay ngắn hạn, lãi suất được ấn định ngay từ đầu và không thay đổi cho đến hết thời hạn vay. Đối với các khoản vay trung và dài hạn, lãi suất cho vay thường được điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với một biên độ giao động nhất định tuỳ theo từng ngân hàng. Lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản vay khác của NHTM.
Do quy mô các khoản vay nhỏ nhưng chi phí bỏ ra lại rất lớn nên các NHTM phải đề ra mức lãi suất cao để bù đắp chi phí (chi phí về thời gian, nhân lực, thẩm định, quản lý…) Thứ tư, cho vay KHCN có mức độ rủi ro cao Rủi ro trong hoạt động cho vay đối với KHCN cao hơn cho vay doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân sau: 6 - Rủi ro về lãi suất: Đối với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thường có sự thoả thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn cho vay. Vì vậy, nguy cơ rủi ro về lãi suất cho vay kinh doanh sẽ thấp hơn so với cho vay KHCN. - Rủi ro đạo đức: Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay KHCN phụ thuộc vào thu nhập của người đi vay.
Tuy nhiên, đối với những KHCN có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng tài chính của người đi vay, công việc làm ăn không tốt… ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan như hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dấn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Thứ năm, lợi nhuận từ cho vay KHCN lớn Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản tín dụng khác của NHTM.
Điều này xuất phát từ các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và cũng có rủi ro cao nhất trong các khoản cho vay của NHTM. Mức lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập của NHTM. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Với chức năng là một trung gian tài chính, ngân hàng đã biến tiết kiệm thành đầu tư, tức là huy động vốn từ các nguồn vốn tạm thời dư thừa trong sản xuất kinh doanh cũng như nguồn vốn nhàn rỗi nằm rải rác trong dân cư để cho vay. Hoạt động này tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đầu tư vào sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập và đời sống người dân.
Giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, nhiều tổ chức tín dụng ra đời, đặc biệt trong thời gian qua nhiều NHTM mới được thành lập. Ngành ngân hàng đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức. Đòi hỏi các ngân hàng nâng cao trình độ quản lý và công nghệ ngân hàng.
Đồng thời chất lượng tín dụng 7 luôn được quan tâm hàng đầu, nó là sức mạnh nội lực giúp ngân hàng tồn tại và phát triển trong cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Đối với nền kinh tế Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ kéo theo tất cả các ngành nghề kinh tế phát triển. Ngân hàng với vai trò quan trọng là huyết mạch của nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất, tức là ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động trong dân cư thành vốn hoạt động, luân chuyển vốn đến những cá nhân cần vốn đầu tư trong nền kinh tế. Ngân hàng cho vay sau đó thu về gốc lãi, vì vậy những cá nhân thực hiện vay vốn của ngân hàng phải có mục đích vay vốn hay phương án kinh doanh đem lại lợi nhuận đủ để trả nợ vay cho ngân hàng, từ đó thúc đẩy ý tưởng sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả đem về nguồn thu cho người đi vay, bên cạnh đó mang lại phúc lợi cho xã hội.
Như vậy, ngành ngân hàng đang giữ vị trí chiến lược trong sự phát triển chung của toàn đất nước. Bởi hiệu quả trong hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ đem lại nguồn lợi không chỉ cho ngân hàng, khách hàng mà còn cho cả xã hội. Đối với các NHTM Cho vay trong nền kinh tế nói chung trong đó có cho vay KHCN nói riêng đều đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường lợi nhuận của NHTM. Trên thực tế, cho vay KHCN so với cho vay khách hàng doanh nghiệp đơn giản hơn nhiều.
Trong khi đó nguồn thu của ngân hàng thông qua hoạt động cho vay này lại khá lớn do lãi suất cho vay KHCN cao, điều này khiến cho lợi nhuận từ hoạt động cho vay KHCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, việc mở rộng hoạt động cho vay tới các cá nhân và hộ gia đình là một định hướng kinh doanh đầy triển vọng của các NHTM. Đối với KHCN Khách hàng sẽ được thoả mãn nhu cầu về vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không cần phải chi phí nhiều thời gian, sức lực cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp. 8 Cho vay KHCN là hình thức tín dụng cung cấp cho cá nhân nhằm tài trợ cho các nhu cầu như chi tiêu, mua sắm, sửa chữa nhà cửa, giáo dục, y tế, du lịch.
Đối với khách hàng, nó giúp giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng với khả năng thanh toán. Do đó, người tiêu dùng được hưởng những lợi ích của hàng hoá dịch vụ trước khi họ tích luỹ đủ tiền, giải quyết những nhu cầu cấp bách một cách nhanh chóng. Cho vay KHCN giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ bằng việc mua trả góp những gì cần thiết, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái. Như vậy, hoạt động cho vay KHCN đã góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống người dân.
Với mục đích đầu tư, người vay có thể mở rộng đầu tư, sử dụng đòn bẩy tài chính giúp họ tăng thêm thu nhập. Ngoài ra, tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng làm các hộ gia đình, cá nhân có thêm động lực và nguồn lực vượt qua những khó khăn trong sản xuất kinh doanh.