CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO NỘP, TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG CỨ TRONG TTDS VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ 1. Khái niệm chứng cứ Khái niệm chứng cứ có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào khía cạnh nhận thức, phương cách tiếp cận, cách đánh giá giá trị chứng minh của chứng cứ. Theo nghĩa thông thường, “chứng cứ là cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định, chứng minh điều gì đó là có thật” 1.
Dưới góc độ TTDS, chứng cứ được quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Từ quy định trên cho thấy, so với BLTTDS 2004 thì Điều này có một số sửa đổi, bổ sung mới như thay cụm từ “cá nhân, cơ quan, tổ chức” thành “cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Bổ sung cụm từ “xuất trình”, “trong quá trình tố tụng”, thay “mà” bằng “và được”, “dùng làm căn cứ” thay bằng “sử dụng làm căn cứ”, bổ sung cụm từ “để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như”, bỏ đoạn “hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”. Như vậy, tinh thần của Điều luật cho thấy chứng cứ là “những gì có thật”, “được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình hoặc do Tòa án thu thập 1 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh; tr.
8 theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định” và “được Tòa án sử dụng là căn cứ để xác định tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Tức đương sự là chủ thể thực hiện việc giao nộp, xuất trình nhưng họ không phải là chủ thể sử dụng chứng cứ làm căn cứ xác định tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Quyền này thuộc về Tòa án. Trong các vụ việc dân sự được Tòa án giải quyết, có rất nhiều tình tiết, sự kiện mà quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó.
Những tình tiết, sự kiện này thường xảy ra trước khi có đơn khởi kiện đến Tòa án nhưng để giải quyết được vụ việc dân sự vẫn phải làm rõ chúng. Trong mối liên quan chung và qua lại giữa các tình tiết, sự kiện, không tình tiết, sự kiện nào xảy ra trên thực tế lại không có mối quan hệ với các tình tiết, sự kiện khác; không tình tiết, sự kiện nào xảy ra lại không để lại tin tức, dấu vết. Trong TTDS, những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được thể hiện dưới hình thức nhất định do Tòa án sử dụng làm cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự được gọi chung là chứng cứ 2. Đặc điểm của chứng cứ Chứng cứ trong vụ việc dân sự có ba thuộc tính cơ bản sau đây: Thứ nhất, về tính khách quan, chứng cứ trong vụ việc dân sự phải là những gì có thật và tồn tại độc lập với ý thức của con người.
Tính có thật của chứng cứ gắn liền với sự hiện hữu của chứng cứ, được thể hiện dưới những hình thức nhất định và thông qua đó, chủ thể chứng minh cung cấp được cho Tòa án và Tòa án xác định được những nội dung mà dựa vào đó làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Tính có thật của chứng cứ gắn liền với tính khách quan của chứng cứ. Tính khách quan của chứng cứ thể hiện sự không phụ thuộc vào ý chí của con người, biểu thị sự độc 2 Trường đại học luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; tr. 9 lập của chứng cứ với mong muốn của con người.
Con người muốn có chứng cứ phải tìm kiếm, thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá theo trình tự nhất định. Con người không thể tạo ra chứng cứ, không thể làm ra thông tin, tài liệu, sự kiện theo hướng có lợi cho mình để tham gia vào hoạt động chứng minh theo ý chí chủ quan của mình. Trong đời sống xã hội, thông qua các hoạt động khác nhau, con người tạo ra và để lại nhiều dấu vết, thông tin nhằm phục vụ cho nhu cầu hoạt động của mình. Những dấu vết, thông tin này xuất phát từ những hành vi hợp pháp hoặc không hợp pháp.
Tuy nhiên, không phải dấu vết, thông tin nào từ hành vi của con người cũng là chứng cứ. Chỉ những dấu vết, thông tin gắn liền với việc Tòa án giải quyết vụ việc dân sự và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết các yêu cầu của đương sự, người yêu cầu mới là chứng cứ. Phải được thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá theo trình tự luật định, tồn tại một cách độc lập với ý chí con người mới được coi là chứng cứ 3. Thứ hai, tính liên quan, đây là thuộc tính quan trọng của chứng cứ.
Tính liên quan của chứng cứ gắn liền với sự kiện cần chứng minh trong các vụ việc dân sự. Những thông tin, tài liệu, sự kiện có thật, tồn tại khách quan chỉ được coi là chứng cứ khi nó có mối liên hệ với các sự kiện cần chứng minh trong vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết. Những thông tin, tài liệu, sự kiện này bản thân nó phải mang, chứa đựng một nội dung hoặc một số nội dung làm sáng tỏ một hoặc một số tình tiết trong vụ án. Tính liên quan của chứng cứ gắn liền với sự hàm chứa thông tin từ các thông tin, tài liệu, sự kiện mà các đương sự và các chủ thể tham gia chứng minh cung cấp cho Tòa án cũng như hoạt động sử dụng chứng cứ của Tòa án trong việc kết luận sự việc.
Thứ ba, về tính hợp pháp, gắn liền với sự tuân thủ pháp luật trong việc thu thập, xác định chứng cứ. Thông tin, tài liệu, sự kiện chỉ được coi là chứng cứ khi được thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá theo thủ tục, trình tự do luật định. Thủ 3 Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên) (2015), Bình luận những điểm mới trong Bộ luật TTDS năm 2015, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hồ Chí Minh; tr. 10 tục, trình tự này có tính bắt buộc và thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.
Tính hợp pháp của chứng cứ gắn liền với giá trị chứng minh của chứng cứ. Mọi chứng cứ được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự phải thực hiện theo quy trình nhất định nhằm khẳng định tính khách quan, đúng đắn, chính xác của chứng cứ cũng như sự đồng nhất của chứng cứ trong hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ 4. Có thể nói, ba thuộc tính này của chứng cứ là “một thể thống nhất không thể tách rời, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, tính khách quan và tính liên quan là điều kiện cần có của chứng cứ, được xem là yếu tố tiền đề khi đặt trong mối quan hệ với các thuộc tính còn lại; còn tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan” 5.
Quy định trên cho thấy, chứng cứ có vai trò quan trọng trong hoạt động TTDS. Để tiếp cận sự thật khách quan và làm sáng tỏ nội dung vụ việc dân sự thì phải có chứng cứ. Thông tin, tài liệu, sự kiện được thừa nhận là chứng cứ hoặc không là chứng cứ là tiền đề lý luận và cơ sở pháp lý để các chủ thể chứng minh sử dụng làm căn cứ bảo vệ quyền của mình hoặc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc phát sinh tại cơ quan tư pháp. Nhận thức được tầm quan trọng của chứng cứ, BLTTDS 2015 đã ghi nhận và quy định về chứng cứ từ Điều 93 đến Điều 95.
Trên cơ sở các quy định này, chủ thể chứng minh có quyền sử dụng các quy định về chứng cứ để phục vụ cho nhu cầu của mình trong việc bảo vệ quyền và Tòa án làm căn cứ giải quyết các yêu cầu của đương sự khi giải quyết vụ việc dân sự 6. Trên thực tế, hoạt động chứng minh diễn ra dưới dạng cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng 4 Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên) (2015), tlđd, tr. 5 Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp, Hà Nội; tr. 6 Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên) (2015), tlđd, tr.
11 cứ là cơ bản và do các đương sự thực hiện là chủ yếu 7. Vì vậy, các hoạt động có liên quan đến chứng cứ như giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đều là những hoạt động TTDS cơ bản và có ý nghĩa quan trọng nhằm làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự. Thế nên, việc nghiên cứu chi tiết về lý luận cũng như quy định pháp luật đối với từng hoạt động nêu trên là rất cần thiết và mang ý nghĩa tích cực trong chiến lược cải cách tư pháp. Khái niệm và quy định của pháp luật về hoạt động giao nộp chứng cứ 1.
Khái niệm Theo từ điển tiếng Việt phổ thông, giao nộp là “nộp cho cơ quan có trách nhiệm thu giữ, ví dụ như giao nộp sản phẩm, giao nộp vào ngân sách nhà nước” 8. Còn theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Lân thì giao nộp được hiểu là “trao cho một cấp nào, theo chủ trương chung, ví dụ giao nộp tiền thuế cho kho bạc” 9. Theo tác giả Bùi Thuận Yến, giao nộp chứng cứ được hiểu là “hoạt động tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng trong việc giúp cho Tòa án, VKS có thêm các chứng cứ xác thực của vụ việc dân sự” 10.