CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO ĐỘ TIN CẬY CUNG CẤP ĐIỆN CỦA LƯỚI ĐIỆN 1. Khái niệm hiệu quả đầu tư: Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định. Việc đánh giá hiệu quả dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn dự án đầu tư, giúp phân bổ nguồn vốn phù hợp, nâng cao hiệu quả đầu tư. Từ đó mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ và mức độ hài lòng của khách hàng, đảm bảo an sinh xã hội.
Để đáp ứng nhu cầu quản lý và nghiên cứu thì có thể phân loại hiệu quả đầu tư theo các tiêu thức sau đây: - Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kĩ thuật hiệu quả quốc phòng. - Theo phạm vi tác dụng của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội .Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi một doanh nghiệp cũng hiệu quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. - Theo mức độ phát sinh trực tiếp hay gián tiếp có hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp.
- Theo cách tính toán, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối .Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí. Cũng hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư: 1. Đánh giá về mặt kỹ thuật và kinh tế kỹ thuật: - SAIDI: Chỉ số về thời gian mất điện trung bình của lưới điện phân phối Đã được nêu rõ trong mục 2.
- SAIFI: Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối Đã được nêu rõ trong mục 2. - MAIFI: Chỉ số về số lần mất điện thoáng qua trung bình của lưới điện phân phối Đã được nêu rõ trong mục 2. 31 - Tổn thất điện năng của lưới điện phân phối bao gồm: Tổn thất điện năng kỹ thuật là tổn thất điện năng gây ra do bản chất vật lý của đường dây dẫn điện, trang thiết bị điện trên lưới điện phân phối. Tổn thất điện năng phi kỹ thuật là tổn thất điện năng do ảnh hưởng của các yếu tố trong quá trình quản lý kinh doanh điện mà không phải do bản chất vật lý của đường dây dẫn điện, trang thiết bị điện trên lưới điện phân phối gây ra.
Đánh giá về mặt kinh tế xã hội: Việc phân tích hiệu quả về mặt kinh tế xã hội nhằm đánh giá được hiệu quả của dự án đối với nền kinh tế quốc dân. Các thông số chính trong phân tích kinh tế xã hội: - Dòng thu (B) bao gồm: • Doanh thu bán điện và các khoản thu khác (ví dụ như thanh lý tài sản cố định, thu hồi vốn lưu động.); • Các lợi ích khác thu được từ dự án (nếu có); • Các lợi ích khác thu được do công trình đa mục tiêu hoặc lợi dụng tổng hợp (nếu có) mà toàn bộ nền kinh tế quốc dân được hưởng hay các giảm thiểu tác hại đối với nền kinh tế (ví dụ như giảm sự cố cắt điện gây tác hại cho nền kinh tế…). - Dòng chi (C) bao gồm: • Vốn đầu tư ban đầu; • Chi phí mua điện; • Chi phí quản lý và vận hành; • Giá trị còn lại của TSCĐ cũ; • Các loại chi phí khác (nếu có) như chi phí liên quan đến công trình đa mục tiêu, lợi dụng tổng hợp. Kết quả phân tích kinh tế xã hội bao gồm các chỉ tiêu sau: - Tỷ lệ lợi ích/chi phí (B/C); - Tỷ lệ hoàn vốn nội tại (EIRR); - Giá trị hiện tại thuần (NPV).
Lãi suất chiết khấu áp dụng cho việc phân tích kinh tế xã hội là 10% (theo Quyết định số 4211/2002/QĐ-BCN ngày 30/9/2002 hướng dẫn tạm thời về nội dung phân tích kinh tế, tài chính các dự án đầu tư các công trình điện). Đánh giá về mặt tài chính: 1. Phương pháp tính giá trị hiện tại thuần (Net Present Value - NPV) (a) Tổng quan phương pháp Giá trị hiện tại thuần của khoản đầu tư (NPV) là khoản tiền chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của dòng tiền thuần hàng năm trong tương lai với khoản vốn đầu tư ban đầu. Phương pháp NPV là phương pháp đánh giá dự án dựa trên giá trị hiện tại của dự án sau khi chiết khấu các dòng tiền của dự án đầu tư về hiện tại bằng tỷ lệ chiết khấu hợp lý (chi phí sử dụng vốn).
Một số điểm cần lưu ý về phương pháp NPV: - Dòng tiền nên được đo lường trên cơ sở tăng thêm do đầu tư đưa lại; - Dòng tiền được tính toán trên cơ sở sau thuế; - Các chi phí chìm (tức các chi phí đã phát sinh trong quá khứ) hoặc chi phí không liên quan (tức các chi phí luôn phát sinh không phụ thuộc vào việc có hay không có dự án) không đưa vào tính toán. Đơn vị cũng nên tính đến các chi phí cơ hội khi đánh giá hiệu quả dự án. (b) Phương pháp tính: Công thức tính toán NPV: Hay Trong đó: - Bi (Benefit) - Lợi ích của dự án, tức là bao gồm tất cả những gì mà dự án thu được (như doanh thư bán hàng, lệ phí thu hồi, giá trị thanh lý thu hồi.) - Ci (Cost) - Chi phí của dự án, tức là bao gồm tất cả những gì mà dự án bỏ ra (như chi đầu tư, chi bảo dưỡng, sửa chữa, chi trả thuế và trả lãi vay…) - r – Tỷ lệ chiết khấu. 33 - n – Số năm hoạt động kinh tế của dự án (tuổi thọ kinh tế của dự án) - i – Thời gian (i = 0,1…n) Kết quả đánh giá hiệu quả dự án: NPV>0 Dòng tiền thu được từ dự án lớn hơn chi phí sử dụng vốn NPV<0 => Dựtiền Dòng án có thuthể được được từ cân nhắc dự án nhỏđầu hơntưchi phí sử dụng vốn NPV=0 => Dựtiền Dòng án không hiệutừquả thu được dự án lớn bằng chi phí sử dụng vốn.
Đơn vị cân nhắc đến các yếu tố khác để xem xét có thực hiện dự án hay không 1. Phương pháp tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return – IRR): (a) Tổng quan phương pháp: Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là một lãi suất mà chiết khấu với mức lãi suất đó làm cho giá trị hiện tại của các khoản tiền thuần hàng năm trong tương lai do đầu tư mang lại bằng với khoản vốn đầu tư ban đầu. Hay nói cách khác, tỷ suất hoàn vốn nội bộ là một lãi suất mà chiết khấu với mức lãi suất đó làm cho giá trị hiện tại thuần (NPV) của dự án đầu tư bằng không (= 0) Hay Trong đó: - Bi - Giá trị thu nhập (Benefits) năm i - Ci - Giá trị chi phí (Cost) năm i - n- thời gian hoạt động của dự án Tỷ suất hoàn vốn nội bộ cũng là một trong những thước đo mức sinh lời của một khoản đầu tư. IRR đóng vai trò như là điểm ngưỡng tối đa của chi phí sử dụng vốn đối với dự án.
Theo đó, trong trường hợp lãi suất chiết khấu đang được áp dụng đối với dự án đánh giá cao hơn IRR, việc đầu tư sẽ được đánh giá là kém hiệu quả. Nhìn chung, tỷ suất hoàn vốn nội bộ càng cao, khả năng thực hiện dự án càng cao. (b) Phương pháp tính: Công thức tính toán IRR: 34 Trong đó: - r1 là lãi suất chiết khấu thấp hơn trong 2 lãi suất chiết khấu - r2 là lãi suất chiết khấu cao hơn trong 2 lãi suất chiết khấu - NPV1 là giá trị hiện tại thuần của dự án sử dụng lãi suất chiết khấu r1 - NPV2 là giá trị hiện tại thuần của dự án sử dụng lãi suất chiết khấu r2 - IRR là tỷ suất hoàn vốn nội bộ. Kết quả đánh giá hiệu quả dự án: IRR>r Tỷ suất hoàn vốn nội bộ của dự án lớn hơn chi phí sử dụng vốn => Dự án có thể được cân nhắc đầu tư IRR<r Tỷ suất hoàn vốn nội bộ của dự án nhỏ hơn chi phí sử dụng vốn => Dự án không hiệu quả IRR=r Tỷ suất hoàn vốn nội bộ của dự án bằng chi phí sử dụng vốn.
Đơn vị cân nhắc đến các yếu tố khác để xem xét có thực hiện dự án hay không 1. Phân tích độ nhạy: (a) Tổng quan phương pháp: Một dự án đầu tư nói chung và dự án đầu tư trong ngành điện nói riêng thường có vòng đời của dự án dài (ví dụ 15 hoặc 20 năm). Việc tính toán giá trị các chỉ tiêu đều dựa trên các giả định không chắc chắn và có thể thay đổi do thực tế có thể diễn biến không đúng như giả định đã đặt ra. Việc phân tích độ nhạy được thực hiện nhằm đánh giá mức độ rủi ro của dự án, xác định liệu dự án có tiếp tục khả thi khi phát sinh các thay đổi bất lợi so với các giả định ban đầu.
Phương pháp phân tích độ nhạy dựa trên cơ sở tính các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - tài chính khi tăng hay giảm một thông số đầu vào nào đó theo chiều ảnh hưởng xấu đến dự án. Từ đó, đơn vị có thể đánh giá độ an toàn của dự án có đảm bảo không nếu thay đổi thông số đầu vào trong dải phân tích và xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các thông số đầu vào đối với các chỉ tiêu đầu ra. Bản thân việc phân tích độ nhạy không được xem là thước đo đánh giá nhằm đưa ra quyết định đầu tư đối với dự án. (b) Phương pháp tính: Phân tích độ nhạy theo các kịch bản sau: 35 - Vốn đầu tư dự án tăng 10%; - Sản lượng điện thương phẩm giảm 10%; - Tiến độ dự án đưa vào khai thác chậm từ 1 đến 2 năm; - Vốn đầu tư tăng 10% và sản lượng điện giảm 10%; - Vốn đầu tư tăng 10%, sản lượng điện giảm 10% và tiến độ dự án đưa vào khai thác chậm từ 1 đến 2 năm.