CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm đòn bẩy tài chính Trong vật lý, đòn bẩy được hiểu là công cụ để khuếch đại lực nhằm biến một lực nhỏ thành một lực lớn hơn, tác động vào vật thể chúng ta cần dịch chuyển. Nhà toán học, vật lý Archimedes đã từng nói: "Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng cả Trái Đất".
Như vậy trong vật lý, người ta dựa vào điểm tựa cố định đế khuếch đại lực nhằm mục tiêu di chuyển một vật thể nào đó. Trong tài chính, người ta mượn thuật ngữ "đòn bẩy" ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định (fixed costs) để gia tăng khả năng sinh lợi của công ty (Nguyễn Minh Kiều, 2010). Đòn bẩy tài chính (financial leverage) liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố định. Đòn bẩy tài chính được hiểu là mức độ theo đó các chứng khoán có thu nhập cố định (như nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
Đòn bẩy tài chính là việc sử dụng chi phí tài trợ cố định (nợ và cổ phần ưu đãi) để nhằm nỗ lực gia tăng lợi nhuận cho cổ đông. Đặc điểm của vốn cổ phần ưu đãi là cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi là cố định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp, đây chính là nhân tố gây nên sự khuếch đại cho thu nhập trên vốn cổ phần thường (EPS). Mặc dù có tác động tương tự như các khoản nợ nhưng cổ tức ưu đãi vẫn có một số điểm khác so với nợ, cổ tức ưu đãi không được tính vào chi phí nên vốn cổ phần ưu đãi không tạo ra khoản tiết kiệm nhờ thuế. Đối với những khoản nợ thì doanh nghiệp luôn phải chịu trách nhiệm hoàn trả, điều này là bắt buộc và theo pháp luật quy định.
Mặt khác, khi doanh nghiệp sử dụng cổ phần ưu đãi thì những cổ đông ưu đãi lại là chủ sở hữu của doanh nghiệp, không phải là các chủ nợ, chính vì thế khi ra các quyết định tài chính thì các nhà quản trị tài chính cần quan tâm đến điều này. Việc sử dụng nợ không gây ra sự phân chia quyền lực trong doanh nghiệp, trong khi sử dụng cổ phần ưu đãi thì việc phân chia quyền lực là khó có thể tránh khỏi. Nguyên lý của đòn bẩy tài chính: Qua định nghĩa về đòn bẩy tài chính, có thể thấy, có hai hình thức để sử dụng đòn bẩy tài chính, đó là thông qua vay nợ và phát hành cổ phiếu ưu đãi: Đối với tài trợ bằng nợ. Khi doanh nghiệp sử dụng nợ thì doanh nghiệp luôn luôn phải trả lãi vay, và khoản chi trả lãi vay này lại được tính vào chi phí trước khi tính thuế thu nhập doanh 1 Thư viện ĐH Thăng Long nghiệp, chi phí này tạo nên một khoản tiết kiệm nhờ thuế, thường được gọi là “lá chắn thuế”.
Lúc này, chi phí lãi vay sau thuế chỉ còn là I*(1 - t), với I là chi phí lãi vay, t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi lãi vay không đổi, nếu thu nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) tăng lên thì lợi nhuận trên vốn cổ phần thường (EPS) sẽ tăng lên. Nếu thu nhập trước thuế và lãi vay mà giảm thì tác động của đòn bẩy tài chính lại ngược lại, làm cho thu nhập trên cổ phần thường bị suy giảm. Đối với tài trợ thông qua phát hành cổ phiếu ưu đãi.
Do đặc điểm của cổ phần ưu đãi là luôn nhận một lượng cổ tức cố định và biết trước, nên rất thuận lợi trong việc lập kế hoạch tài chính. Chính vì cổ tức ưu đãi là cố định nên khi thu nhập sau thuế tăng lên thì những cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi sẽ nhận được một khoản lợi tức cố định, số tiền còn lại sau khi chi trả cho cổ phiếu ưu đãi sẽ dành cho cổ phiếu thường. Trong trường hợp này vốn cổ phần thường sẽ tăng lên và thu nhập trên vốn cổ phần thường tăng lên. Ngược lại, trong trường hợp thu nhập sau thuế giảm, vốn cổ phần thường và thu nhập trên vốn cổ phần thường sẽ giảm.
Sử dụng cổ phiếu ưu đãi khác với sử dụng nợ vay là khi sử dụng cổ phiếu ưu đãi không tạo ra lá chắn thuế cho doanh nghiệp bởi cổ tức chi trả cho cổ phiếu ưu đãi không được coi là một loại chi phí cố định hợp lý của công ty nên không được trừ đi khí tính thu nhập sau thuế. Từ hai phương án sử dụng đòn bẩy tài chính trên có thể thấy phương thức khác nhau nhưng đều có một mục tiêu chung là tối đa hoá lợi nhuận. Do đó, nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp phải đưa ra quyết định lựa chọn phương án phù hợp với doanh nghiệp để phát huy tối đa hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính. Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng cả nợ vay và cổ phiếu ưu đãi thì doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ hai phía.
Đối với nợ thì doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ. Mặt khác, khi sử dụng cổ phiếu ưu đãi thì có những cổ đông ưu đãi lại là chủ sở hữu doanh nghiệp chứ không phải chủ nợ, vì thế khi ra quyết định tài chính các nhà quản trị tài chính nên lựa chọn 1 trong 2 phương án thay vì chọn cả 2. Chỉ tiêu đo lường mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính thường liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng nợ, đặc biệt là nợ phải trả dài hạn. Việc sử dụng nợ dài hạn được sử dụng như một công cụ tăng cường đòn bẩy tài chính bởi việc vay một lượng lớn vốn từ nguồn nợ dài hạn giúp doanh nghiệp có thể đầu tư vào các dự án có tiềm năng sinh lời cao hơn.
Điều này tạo ra cơ hội tối ưu hóa sinh quả cho cổ đông và tối thiểu hóa vốn tự có sử dụng. Chính vì vậy khi đo lường mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính chỉ lấy chỉ tiêu nợ dài hạn, không sử dụng nợ ngắn hạn. 2 Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản Hệ số nợ trên tổng tài sản là hệ số tài chính nhằm đo lường mức độ sử dụng và quản lý nợ dài hạn của doanh nghiệp. Hệ số này được tính bằng cách lấy tổng nợ dài hạn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định chia cho giá trị tổng tài sản trong cùng kỳ.
Các số liệu này được lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Công thức tính như sau: Tổng nợ dài hạn Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản = Tổng tài sản Hệ số nợ cho biết 1 đồng tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng bao nhiêu đồng nợ dài hạn. Hơn hết hệ số này thể hiện mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính tại doanh nghiệp. Hệ số nợ càng cao thì đồng nghĩa với việc mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính cao, nhưng quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp có tỷ trọng nợ lớn, rủi ro cao trong việc chi trả lãi vay cho chủ nợ.
Hệ số nợ dài hạn trên tổng tài sản không có con số cụ thể bao nhiêu thì là hiệu quả nhất mà còn tùy thuộc vào từng ngành, từng thời kỳ, từng chiến lược kinh doanh khác nhau. Hệ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu Hệ số nợ dài hạn trên VCSH đo lường quy mô tài chính của doanh nghiệp, cho biết bao nhiêu đồng nợ dài hạn được đảm bảo bằng 1 đồng vốn chủ sở hữu. Hệ số tổng nợ dài hạn trên VCSH được tính bằng cách: Tổng nợ dài hạn Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu Thông thường, hệ số này được so sánh với 1. Tỷ lệ lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nợ dài hạn, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi vốn chủ sở hữu.
Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ có nghĩa là nợ dài hạn chiếm tỉ lệ nhỏ so với tổng nguồn vốn, doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Nếu D/E càng lớn thì rủi ro tài chính càng cao, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ và lãi vay. Tuy nhiên việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế TNDN. Do đó, doanh nghiệp cần cân nhắc giữa rủi ro tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất.
Hệ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Hệ số tổng tài sản trên VCSH cho biết khả năng tự tài trợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu. Được xác định theo công thức sau: Tổng tài sản Hệ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu 3 Thư viện ĐH Thăng Long Chỉ tiêu này cho biết quy mô VCS mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư và tổng tài sản. Thể hiện mấy đồng vốn đầu tư vào tài sản thì doanh nghiệp sẽ sử dụng một đồng VCSH để tài trợ. Qua chỉ tiêu này có thể đánh giá khả năng tự chủ của doanh nghiệp về mức độ sử dụng VCSH cũng như mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính mà công ty đang sử dụng.
Vai trò của đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính được ví như con dao hai lưỡi, vừa khuếch đại thu nhập trên VCSH vừa làm tăng rủi ro tài chính. Tuy nhiên, đòn bẩy tài chính vẫn là một công cụ tài chính được các doanh nghiệp tin dùng bởi có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thứ nhất, đòn bẩy tài chính rất hữu dụng cho phân tích, hoạch định và kiểm soát tài chính. Các chi phí tài chính cố định được sử dụng tạo rất nhiều thuận lợi trong việc quản lý tài chính.
Việc nghiên cứu về đòn bẩy tài chính còn giúp cho các nhà quản trị tài chính có thể có thêm công cụ để gia tăng lợi nhuận trên cổ phần thường, giúp có thêm các thông tin để hỗ trợ cho việc quản lý nợ, vốn chủ sở hữu… của doanh nghiệp. Thứ hai, một doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính với hy vọng đạt được lợi nhuận cao hơn các định phí của nợ và cổ phần ưu đãi, từ đó gia tăng lợi nhuận cho cổ đông thường. Tuy nhiên đòn bẩy tài chính là con dao hai lưỡi làm tăng tính khả biến hay rủi ro trong lợi nhuận của cổ đông thường.