Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng tín dụng DNVVV tại BIDV trên địa bàn tỉnh An Giang. Chương 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với DNNVV tại BIDV trên địa bàn tỉnh An Giang.
Chương 5: Kết luận giải pháp và kiến nghị. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm và lý luận chung 2.1 Tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Khi xuất hiện sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa giàu, nghèo, người nắm quyền lực, người không có gì.Khi người nghèo gặp phải những khó khăn không thể tránh thì buộc họ phải đi vay, mà những người giàu thì cấu kết với nhau để ấn định lãi suất cao, chính vì thế tín dụng nặng lãi ra đời.
Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%, do việc sử dụng tín dụng nặng lãi không phục vụ cho việc sản xuất mà chỉ phục vụ cho mục đích tín dụng nên nền kinh tế bị kìm hãm động lực phát triển. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Cho vay còn gọi là tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ.
Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian về cho vay, lãi suất phải trả v. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. 5 Khác với các giao dịch hàng hóa thông thường, giao dịch tín dụng rất đặc thù bởi tính liên thời gian của nó.
Nói cách khác, các khoản cho vay hôm nay chỉ được hoàn trả ở tương lai. Trong thời gian đó, dưới tác động của nhiều yếu tố (cả vĩ mô lẫn vi mô) khả năng trả nợ của người vay có thể thay đổi theo chiều hướng xấu đi, do đó làm tăng rủi ro cho các tổ chức tín dụng dẫn đến các TCTD sẽ từ chối hay giới hạn số tiền cho vay đối với các đối tượng được xem là rủi ro để nhằm bảo toàn vốn trong cho vay và lợi nhuận, hiện tượng này được gọi là hạn chế tín dụng. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Tại điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP, ngày 11 tháng 3 năm 2018. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm 6 không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Theo BIDV, DNNVV được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa như sau: Bảng 2.1: Phân loại DNNVV có và không có thông tin về tài chính theo BIDV (i). Đối với những khách hàng DN mà BIDV có thông tin về tình hình tài chính Phân khúc Điều kiện Doanh thu thuần BQ ≤ 500 tỷ và tổng giới hạn cấp 1. DN NVV tín dụng tại BIDV ≤ 200 tỷ Là khách hàng thỏa mãn đồng thời các điều kiện: + DTT bình quân ≤ 20 tỷ đồng.
+ Khách hàng có phát sinh nhu cầu tín dụng và DN tổng giới hạn cấp tín dụng của khách hàng tại mọi siêu nhỏ thời điểm ≤ 10 tỷ đồng Trong đó DN nhỏ DDT BQ ≤ 200 tỷ đồng ( trừ DN siêu nhỏ) DN vừa 200 tỷ đồng < DTT BQ ≤ 500 tỷ đồng (ii). Đối với những KHDN mà BIDV không có thông tin về tình hình tài chính Phân khúc Điều kiện về số dư tiền gửi bình quân 2. DN NVV ≤ 50 𝑡ỷ DN vừa 20 tỷ đồng < TGBQ ≤ 50 tỷ Trong đó DN nhỏ TGBQ ≤ 20 tỷ đồng Ghi chú các từ viết tắt: DDT: Doanh thu thuần; TG: Tiền gửi; BQ: Bình quân; KHDN: Khách hàng doanh nghiệp 7 2. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Những đặc điểm thể hiện qua các ưu điểm sau: Thứ nhất là các DNNVV năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu nhỏ, lẻ, có tính địa phương do DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, việc làm của người lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất việc so với người lao động ở các DN lớn, đặc biệt khi nền kinh tế bị suy thoái.
Đặc điểm thứ hai là tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp, qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp. Đặc điểm thứ ba là vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế. Những đặc điểm thể hiện nhược điểm của DNNVV gồm: Nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng như bổ sung để thực hiện quá trình tích tụ tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh; cơ sở vật chất, trình độ công nghệ kỹ thuật thường yếu kém, lạc hậu. Nhà xưởng, nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần các DN nhỏ rất chật hẹp; trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức năng còn hạn chế; đa số các chủ DN nhỏ chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu.
Quy mô vốn thấp là nguyên nhân của những bất lợi trong hoạt động như quy mô DN không lớn, khả năng tài chính hạn hẹp, DNNVV ít được hưởng các khoản chiết khấu giảm giá do mua hàng hóa với số lượng ít. Trong trường hợp cần phải nhập các linh kiện của nước ngoài, DNNVV thường thiếu ngoại tệ và không mua được trực tiếp, phải thông qua nhà phân phối độc quyền trong nước nên giá cả bị đắt hơn. Bên cạnh đó, do khả năng tài chính hạn hẹp nên DNNVV khó có thể dành ra một khoản tiền đủ lớn để thực hiện chiến lược quảng bá cho thương hiệu cũng như cho sản phẩm và từ đó khó có khả năng vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Quy mô vốn thấp cũng gây ra những bất lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, với vốn chủ sở hữu ít, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn vay thấp nên khả năng vay vốn của DN cũng rất hạn chế.
Các DNNVV thường thiếu tài sản thế chấp cho khoản tiền dự định vay. Một số hình thức cấp tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (i). Tín dụng ngắn hạn Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể vay ngắn hạn tại các TCTD để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, các DN không được vay để đáp ứng nhu cầu như mua sắm các tài sản và chi phí hình thành các tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm. Căn cứ vào điều kiện cụ thể, các DNNVV có thể lựa chọn các hình thức vay ngắn hạn như sau: Chiết khấu chứng từ có giá: Đây là hình thức mà qua đó ngân hàng mua các giấy tờ có giá ngắn hạn trước khi các chừng từ này đến hạn thanh toán, đối tượng chiết khấu là các giấy tờ ngắn hạn bao gồm tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, bộ chứng từ hàng xuất, các giấy tờ có gía bằng tiền.
Cho vay từng lần: Hình thức tín dụng này thường xuyên được áp dụng đối với các DN không có nhu cầu vốn thường xuyên, cần vay vốn cho hoạt động kinh doanh cụ thể. Theo hình thức này, mỗi lần vay DN và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.