Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa Sức sản xuất (SSX) sữa của bò sữa bị chi phối bởi nhiều yếu tố: di truyền và môi trường. Tính trạng sản lượng sữa (SLS) là một trong những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất sữa. Tính trạng SLS lứa 1 (SLS1), SLS lứa 2 (SLS2), SLS lứa 3 (SLS3) và SLS trung bình các lứa đầu (SLStb) đều bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.
SLS1 bị ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê rõ rệt bởi tất cả các yếu tố: tuổi đẻ, khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc và mùa vụ đẻ với mức xác suất rất cao và tính trạng SLS2 cũng bị ảnh hưởng rõ rệt bởi tất cả các yếu tố với mức xác suất cao, ngoại trừ tuổi đẻ. Trong số các yếu tố đó, khu vực chăn nuôi, nguồn bố và nguồn gia súc gây ảnh hưởng có ý nghĩa với mức xác suất rất cao, yếu tố nguồn mẹ và mùa vụ đẻ gây ảnh hưởng với mức xác suất thấp. Tương tự, tính trạng SLS3 bị ảnh hưởng rõ rệt bởi tất cả các yếu tố với mức xác suất cao, ngoại trừ tuổi đẻ và nguồn mẹ. Trong lúc đó, tính trạng SLS bị ảnh hưởng có ý nghĩa bởi các yếu tố tuổi đẻ, khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc, mùa vụ và lứa đẻ với mức xác suất cao (Phạm Văn Giới và cộng sự, 2006) [12].
Ảnh hưởng của giống Các giống bò sữa khác nhau có sức sản xuất sữa khác nhau, giống HF cao hơn HF lai vì trong đó có một phần gen của giống bò Sind và giống bò vàng Việt Nam mà các giống này có SSX sữa thấp. Như vậy, sản lượng sữa giữa các nhóm bò lai HF và HF thuần có sự khác biệt rõ rệt (Nguyễn Xuân Trạch và cộng sự, 2003 [33]). Theo Nguyễn Văn Trung (2010) [34] thì SLS1, SLS2, SLS3 của giống bò HF thuần nuôi tại Mộc Châu và Tuyên Quang khá cao, lần lượt là 4.586 kg/chu kỳ. n 5 Đối với sản lượng sữa của 3 lứa sữa đầu của 3 nhóm bò lai, theo tác giả Nguyễn Văn Đức (2005) đã đánh giá “mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến khối lượng, sản lượng, tỷ lệ mỡ 3 lứa sữa đầu bò lai hướng sữa Việt Nam” Bảng 1.1 năng suất sữa của một số nhóm giống HF lai Giống SLS1 SLS2 SLS3 F1(1/2HF) 2001±212 2267±248 2515±267 F2 (3/4HF) 3102±321 3385±319 3657±307 F3 (5/8HF) 2895±282 3209±303 3417±306 F3 (7/8HF) 3228±301 3578±296 3771±291 Sản lượng sữa trung bình của 3 lứa sữa đầu của mỗi nhóm bò lai hướng sữa Việt Nam đều tăng dần từ lứa sữa thứ nhất đến lứa sữa thứ 3.
Sự sai khác SLS giữa 3 lứa sữa đầu đều biểu thị rất rõ rệt (p<0,01). Kết quả này phù hợp các kết quả nghiên cứu về SLS bò HF lai của Việt Nam và các nước khác (Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức, 1991[23]; Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự, 2000[30]; Nguyễn Quốc Đạt và cộng sự, 2000 [7]). Sản lượng sữa trung bình của 3 lứa sữa đầu bò lai hướng sữa Việt Nam biến động lớn, đó là 2,247; 3,380 và 3,209 kg/chu kì đối với các nhóm bò HF lai F1(1/2HF), F2(3/4HF) và F3(5/8HF). Như vậy, nhóm bò lai 7/8HF có sản lượng sữa cao nhất.
Kết quả này cao hơn giá trị 1,830-1,889 kg/chu kì tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991)[23] trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì và Phù Đổng, song giá trị này tương đương các tiêu chuẩn giống của bò lai thuộc vùng nhiệt đới của một số nước như India và Thailand. Các kết quả ở báo cáo này cao hơn so với kết quả nghiên cứu trên đàn bò lai HF×Hariana tại Bang Hariana - India của Nguyễn Văn Đức và Taneja (1985) [45]. Ảnh hưởng của lứa đẻ Yếu tố lứa đẻ gây ảnh hưởng rất rõ rệt đến các tính trạng SLS của đàn bò HF lai với mức xác suất cao (P<0,0001). Kết quả này phù hợp với quy luật chung về quá trình sinh trưởng phát triển và sản xuất sữa của bò sữa.
Ở lứa đẻ đầu, cấu trúc cơ thể, các chức năng sinh lý, bầu vú chưa phát triển hoàn chỉnh nên chưa có khả năng sản xuất sữa cao. SLS tăng dần và đạt đỉnh ở các lứa 3 hoặc 4 và giảm dần từ lứa 5. Kết quả điều tra về sản lượng sữa qua các lứa đẻ của bò HF lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì được trình bày ở bảng 3. Sản lượng sữa của các nhóm bò này cũng đều tăng dần từ lứa đẻ 1 đến lứa đẻ thứ 3 sau đó giảm dần.
Theo Nguyễn Văn Thưởng (1995) [29], bò sữa thường cho sản lượng sữa cao nhất từ chu kỳ thứ 4 đến chu kỳ thứ 6 và sản lượng sữa ở những chu kỳ này tăng khoảng 40 - 50% so với sản lượng sữa ở chu kỳ 1. Theo Vũ Chí Cương và CS (2006)[3], sản lượng sữa cao nhất của bò F2 và F3 cũng vào chu kỳ 4. Theo Lê Đăng Đảnh (1996)[5], bò F1 và F2 có sản lượng sữa cao nhất là vào chu kỳ 5 và 6. Như vậy, có thể nói các loại bò sữa nuôi ở Ba Vì có diễn biến sản lượng sữa qua các chu kỳ theo đúng quy luật.
Năng suất sữa của các giống và các lứa đẻ thể hiện ở Bảng 3.2 cho thấy bò lai F3(5/8) ở lứa 2 cho sản lượng sữa cao nhất (4296,39 kg/chu kỳ) cao hơn bò lai F2 (4239,75 kg/chu kỳ) và hơn bò lai F1 (3142,49 kg/chu kỳ) trong cùng lứa. Với lứa sữa 3, giống F3 (3927,84 kg/chu kỳ) có năng suất cao hơn giống F1 (3153,05 kg/chu kỳ) nhưng cao không rõ rệt với giống F2 (3900,69 kg/kỳ). Từ kết quả này có thể xác định lứa sữa cho SLS cao để xây dựng kế hoạch phát triển chăn nuôi, chọn lọc, sử dụng khai thác thích hợp, loại thải và thay thế đàn đạt hiệu quả cao vì yếu tố SLS trên từng lứa tương đối chính xác. Tùy theo giống bò, lứa đẻ mà cho lượng sữa khác nhau, nếu bò sữa mà cho sữa đạt SLS yêu cầu thì giữ để khai thác và khai thác ở những lứa tiếp theo.
Cụ thể trong nghiên cứu này, bò đẻ lứa thứ nhất phải đạt SLS 2868,37 - n 7 3254,42 kg/chukỳ, lứa thứ hai phải đạt 3142,49 - 4296,39 kg/chukỳ, lứa thứ ba phải đạt 3153,05 - 3927,84 kg/chukỳ thì đạt yêu cầu và được giữ lại tiếp tục nuôi dưỡng và khai thác, những bò có SLS thấp hơn nhưng thấp hơn nhiều so với SLS tiêu chuẩn thì loại thải và thay mới, đồng thời cần lưu ý với lứa thứ nhất có sản lượng sữa kém hơn lứa thứ 2, 3 và giảm dần khi đẻ nhiều (khi không còn khả năng sinh sản bò bị loại thải). Điều này giúp cho người chăn nuôi quản lý tốt đàn bò sữa lai và chủ động về giống đồng thời có một kế hoạch lâu dài và chủ động đạt hiệu quả kinh tế cao. Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước 1. Tình hình chăn nuôi và công tác giống bò sữa ngoài nước và trong nước 1.
Ngoài nước Các nước trên thế giới đã nghiên cứu thu được kết quả tốt về yếu tố giống có ảnh hưởng đến SLS và đưa ra những giải pháp thích hợp. Ở một số nước nhiệt đới, các nhà chăn nuôi đã tìm cách phát triển chăn nuôi bò sữa cho các vùng này. Ban đầu họ đều đưa các giống bò ôn đới để nuôi thích nghi và phát triển, nhưng nói chung các giống bò sữa ôn đới đều không thích nghi được với khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm. Từ đó, việc nghiên cứu lai tạo giống bò sữa nhiệt đới bằng cách lai giữa bò ôn đới với bò địa phương được thực hiện.
Sau đây là tình hình nghiên cứu về giống của một số nước đã thành công và phát triển mạnh ngành chăn nuôi bò sữa. * Chăn nuôi bò sữa ở Thailand. Thailand là một nước có đàn bò sữa đứng thứ 3 ở Đông Nam Á sau Myanma và Indonesia, nhưng có tốc độ tăng đàn và sản lượng sữa cao nhất. Do Chính phủ Thailand có chính sách khuyến khích chăn nuôi bò sữa trong nước, giảm nhập khẩu sữa từ nước ngoài, chú trọng công tác gây tạo, chọn lọc và nhân giống, đặc biệt là các chính sách bảo hộ sản xuất sữa trong nước nhờ n 8 đó mà chăn nuôi bò sữa ở Thailand khá phát triển.
- Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Thailand dùng bò đực Brown swiss, Jersey và Red Dane để cải tạo khả năng cho sữa của bò cái địa phương, Brahman, Sahwan và Red Sind. Sau đó dùng bò HF để cải tiến khả năng cho sữa của bò.V (1989) [57],Ở Thailand người ta nhận thấy bò lai HF có tỷ lệ máu HF trên 75% có tiềm năng sản xuất sữa cao, nhưng khả năng thích nghi với môi trường nóng ẩm kém, khả năng chống chịu bệnh tật không cao và thường có các vấn đề về khả năng sinh sản (không động dục, động dục chậm, sinh đẻ khó, hay sót nhau …), bò sữa thích nghi với điều kiện chăn nuôi của Thailand là loại bò lai HF có tỷ lệ máu HF bằng hoặc thấp hơn 75%. Tuy nhiên các nhà chăn nuôi Thailand lại cho rằng việc cải tiến di truyền đàn bò sữa chủ yếu phải dựa vào giá trị gây giống (khả năng sản xuất sữa) của các cá thể bò đực và bò cái, còn tỷ lệ máu các loại chỉ là vấn đề tham khảo. Chính vì vậy Thailand giữ lại làm giống tất cả những con bò sữa có khả năng sản xuất sữa cao và thích nghi với điều kiện nóng, ẩm bất kể tỷ lệ máu HF là bao nhiêu.
- Từ năm 1994 đến nay, Thailand đã gây tạo đàn bò sữa theo 2 hướng: + Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF cao (trên 75%) bằng cách phối bò đực giống HF Canada với bò cái giống HF Canada trong 3 đời (nhóm 1), phối giống bò đực giống HF Canada với bò cái lai HF có tỷ lệ máu HF bằng hoặc trên 75% ( sản lượng sữa trên 3,500kg) trong 3 đời (nhóm 2). Sau đó dùng bò đực giống HF thuần tạo ra trong nước (nhóm 1) phối với bò cái lai HF ở nhóm 2. Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 4.500kg/chu kỳ tiết sữa. + Tạo đàn bò sữa có tỷ lệ máu HF 75% bằng cách: phối giống bò đực giống HF với bò cái Zebu, bò cái địa phương.
Sau đó cố định đàn bò lai HF n 9 có tỷ lệ máu 75%. Đàn bò sữa này có sản lượng sữa khoảng 3.500kg/chu kỳ tiết sữa.