Chương 1 - Giới thiệu chung về cơ sở dữ liệu không gian 1.1 Giới thiệu chung về cơ sở dữ liệu Cơ sở dữ liệu (Database) là tập dữ liệu có mối quan hệ tương quan nhau và lưu trữ trong môi trường máy tính, Database có thể được xem như một hoặc vài file lưu trữ trên một số thiết bị nhớ ngoài. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Database Management System - DBMS) là tập các phần mềm quản lý cấu trúc cơ sở dữ liệu và điều khiển truy nhập (minh họa hình 1.1) bao gồm: Định nghĩa cơ sở dữ liệu (Chỉ ra các kiểu dữ liệu, cấu trúc và các ràng buộc), Thao tác, Truy vấn và Cập nhật cơ sở dữ liệu. Người sử dụng/người lập trình Chương trình ứng dụng /Truy vấn Phần mềm xử lý truy vấn Phần mềm truy cập dữ liệu Lưu trữ DB Lưu trữ định nghĩa DB (metadata) Hình 1. Môi trường hệ thống cơ sở dữ liệu đơn giản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Phần mềm của hệ quản trị cơ sở dữ liệu bao gồm hai phần, phần trên làm nhiệm vụ xử lý các truy vấn của người sử dụng, phần dưới cho phép truy nhập vào dữ liệu lưu trữ trên máy tính.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thường được xây dựng trên cơ sở mô hình dữ liệu sử dụng, trước kia có mô hình dữ liệu phân cấp (hierarchical) và mô hình dữ liệu mạng (network). Ngày nay, ba mô hình cơ sở dữ liệu đang được phát triển và sử dụng rộng rãi đó là mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ (relational), hướng đối tượng (object-oriented), đối tượng-quan hệ (object-relational). Mô hình dữ liệu phân cấp ngày nay đã quá lỗi thời, hệ quản trị cơ sở dữ liệu phân cấp (hierarchical DBMS) giả sử rằng dữ liệu có mối quan hệ thứ bậc cha và con. Cấu trúc dữ liệu bắt buộc phải xây dựng phù hợp với mô hình này để thực hiện được lợi ích và hiệu quả trong quản lý.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu mạng (network DBMS) cho phép các cấu trúc dữ liệu phức tạp được xây dựng nhưng không có tính mềm dẻo và đòi hỏi thiết kế phải hết sức cẩn thận, tuy nhiên lợi ích của mô hình này là nhanh và hiệu quả.1 Mô hình quan hệ Cơ sở dữ liệu quan hệ phát triển trên cơ sở mô hình quan hệ, ở đó dữ liệu tổ chức vào các quan hệ hay các bảng. Một lược đồ quan hệ bao gồm tập các tên thuộc tính và chúng được ánh xạ tới miền giá trị, lược đồ quan hệ chỉ ra cấu trúc của quan hệ chứ không chứa dữ liệu. Quan hệ là tập các bản ghi lưu dữ liệu của các tập thuộc tính trong lược đồ quan hệ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ được sử dụng một cách áp đảo so với các hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác bởi lợi ích nhanh chóng và tin cậy.
Tuy nhiên, với những ứng dụng lớn nó tỏ ra chậm chạp vì relation DBMS phải sử dụng rất nhiều bảng cho hàng loạt các quy tắc 1.2 Mô hình hướng đối tượng Hệ quản trị cơ sở dữ liệu hướng đối tượng OODBMS (Object-oriented database management system) tích hợp giữa hướng đối tượng và cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu hướng đối tượng được đặc trưng bởi mô hình dữ liệu hướng đối tượng và ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng, ở đó các đơn vị dữ liệu là các đối tượng cơ sở. Các đối tượng này có định danh, thuộc tính và hành vi được định nghĩa qua phương thức, tất cả được bao gói trong chính đối tượng đó.3 Mô hình đối tượng-quan hệ Mô hình Object-relational được mở rộng từ mô hình dữ liệu quan hệ, mô hình này là sự thỏa hiệp giữa hai khái niệm hướng đối tượng và quan hệ. Ở đó các đặc trưng hướng đối tượng được tích hợp trong cơ sở dữ liệu quan hệ nhằm sử dụng sức mạnh của mô hình hướng đối tượng trong khi đó vẫn duy trì đầy đủ các chức năng trong mô hình quan hệ 1.2 Giới thiệu về GIS (Geographic information system) Có rất nhiều định nghĩa về GIS, một cách dễ hiểu có thể hình dung GIS là hệ thống thông tin địa lý, về khía cạnh bản đồ học thì GIS là kết hợp của lập bản đồ và công nghệ cơ sở dữ liệu, GIS không chỉ là công cụ tạo bản đồ mà còn lưu trữ và biểu diễn dữ liệu.
Sau đây là một số định nghĩa về GIS hay được sử dụng [1]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Định nghĩa của dự án The Geographer's Craft, Khoa Địa lý, Trường Đại học Texas GIS là cơ sở dữ liệu số chuyên dụng trong đó hệ trục tọa độ không gian là phương tiện tham chiếu chính. GIS bao gồm các công cụ để thực hiện các công việc sau đây: Nhập dữ liệu từ bản đồ giấy, ảnh vệ tinh, ảnh máy bay, số liệu điều tra và các nguồn khác. Lưu trữ dữ liệu, khai thác, truy vấn cơ sở dữ liệu Biến đổi dữ liệu, phân tích, mô hình hóa, bao gồm cả dữ liệu thống kê và dữ liệu không gian.
Lập báo cáo, bao gồm bản đồ chuyên đề, các bảng biểu, biểu đồ và kế hoạch. Từ định nghĩa trên thấy rõ ba vấn đề sau của GIS. Thứ nhất, GIS có quan hệ với ứng dụng cơ sở dữ liệu. Toàn bộ thông tin trong GIS đều liên kết với tham chiếu không gian như phương tiện chính để lưu trữ và xâm nhập thông tin.
Thứ hai, GIS là công nghệ tích hợp. Hệ GIS đầy đủ có đầy đủ khả năng phân tích, bao gồm phân tích ảnh máy bay, ảnh vệ tinh hay tạo lập mô hình thống kê, vẽ bản đồ. Cuối cùng, GIS được xem như tiến trình không chỉ là phần cứng, phần mềm rời rạc mà GIS còn được sử dụng vào trợ giúp quyết định. Cách thức nhập, lưu trữ, phân tích dữ liệu trong GIS phải phản ánh đúng cách thức thông tin sẽ được sử dụng trong công việc lập quyết định hay nghiên cứu cụ thể.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Định nghĩa của Viện Nghiên cứu Hệ thống Môi trường ESRI, Mỹ GIS là công cụ trên cơ sở máy tính để lập bản đồ và phân tích những cái đang tồn tại và các sự kiện xảy ra trên Trái đất. Công nghệ GIS tích hợp các thao tác cơ sở dữ liệu như truy vấn và phân tích thống kê với lợi thế quan sát và phân tích thống kê bản đồ. Các khả năng này sẽ phân biệt GIS với các hệ thông tin khác. Có rất nhiều chương trình máy tính sử dụng dữ liệu không gian như AutoCAD và các chương trình thống kê, nhưng chúng không phải là GIS vì chúng không có khả năng thực hiện các thao tác không gian.
Định nghĩa của David Cowen, NCGIA, Mỹ GIS là hệ thống phần cứng, phần mềm và các thủ tục được thiết kế để thu thập, quản lý, xử lý, phân tích, mô hình hóa và hiển thị các dữ liệu qui chiếu không gian để giải quyết các vấn đề quản lý và lập kế hoạch phức tạp. Độ phức tạp của thế giới thực là không giới hạn. Càng quan sát thế giới gần hơn càng thấy được chi tiết hơn. Con người mong mỏi lưu trữ, quản lý đầy đủ các dữ liệu về thế giới thực.
Nhưng sẽ dẫn đến phải có cơ sở dữ liệu lớn vô hạn để lưu trữ mọi thông tin chính xác về chúng. Do vậy, để lưu trữ được dữ liệu không gian của thế giới thực vào máy tính thì phải giảm số lượng dữ liệu đến mức có thể quản lý được bằng tiến trình đơn giản hóa hay trừu tượng hóa (hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trừu tượng hóa 1.6 G Phần I đơn giản hóa mềm S công C Người sử dụng Thế giới thực cụ SDL Kết quả Hình 1.2 Hệ thông tin địa lý Ý nghĩa chủ yếu của tin học hóa thông tin địa lý là khả năng tích hợp các kiểu và nguồn dữ liệu khác biệt. Mục tiêu của GIS là cung cấp cấu trúc một cách hệ thống để quản lý các thông tin địa lý khác nhau và phức tạp, đồng thời cung cấp các công cụ, các thao tác hiển thị, truy vấn, mô phỏng.
Tầng Tầng Khách Biên Tầng Đường hàng h Tần quốcg Nhà lộ ở ành chính hố Hình 1.3 Tầng bản đồ GIS lưu trữ thông tin thế giới thực thành các tầng (layer) bản đồ chuyên đề mà chúng có khả năng liên kết địa lý với nhau (hình 1. Mỗi nhóm người sử dụng sẽ quan tâm nhiều hơn đến một hay vài loại thông tin. Thí dụ, Sở Giao thông công chính sẽ quan tâm nhiều đến hệ thống đường phố. Sở Nhà đất quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 tâm nhiều đến các khu dân cư và công sở.
Sở Thương mại quan tâm nhiều đến phân bổ khách hàng trong vùng. Tư tưởng tách bản đồ thành tầng tuy đơn giản nhưng khá mềm dẻo và hiệu quả, giúp giải quyết rất nhiều vấn đề về thế giới thực.3 Mô hình cơ sở dữ liệu không gian 1.1 Giới thiệu Như phần trên đã giới thiệu thì dữ liệu GIS cần phải được lưu trữ và quản lý cả dữ liệu không gian và dữ liệu số và được điều khiển trực tiếp bởi ứng dụng hoặc hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Hệ thống ứng dụng GIS có thể điều khiển dữ liệu trực tiếp từ file, tuy nhiên điều này dẫn đến mất đi tính độc lập, bảo mật và sự thống nhất trong điều khiển dữ liệu do những đặc trưng sau [2]: Cấu trúc dữ liệu không gian rất phức tạp. Một đối tượng có thể chỉ đơn thuần là một điểm nhưng cũng có thể được tạo nên từ hàng nghìn đa giác phân bố tuỳ ý trong không gian.
Việc lưu trữ tập dữ liệu như thế không thể sử dụng một bảng quan hệ với các bản ghi kích thước cố định mà đòi hỏi phải xây dựng cấu trúc dữ liệu khác phù hợp Dữ liệu không gian luôn có sự thay đổi, do đó cần phải linh hoạt trong tổ chức dữ liệu, hỗ trợ các thao tác bổ sung, loại bỏ, cập nhật với thời gian đáp ứng nhanh nhất. Dữ liệu không gian thường có dung lượng rất lớn. Việc lưu các bản đồ địa lý có thể cần đến hàng gigabyte bộ nhớ Với những lý do này thì hệ quản trị cơ sở dữ liệu, cần phải tích hợp, biểu diễn và tháo tác với thông tin địa lý cùng với dữ liệu truyền thống tại mức logic LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 và hỗ trợ một cách hiệu quả ở mức vật lý để lưu trữ và xử lý thông tin về không gian.