CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 1. Tổng quan về đất nước Việt Nam 1. Vi trí địa ly Việt Nam Việt Nam là một quốc gia năm ở phía đông bán đảo Đông Duong va được xem là trung tâm khu vực Đông Nam A. Lãnh thé Việt Nam bao gồm đất liền hình chữ "S" và hơn 3.000 hòn đảo và quần đảo với diện tích đất tổng cộng 331.
Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia và vịnh Thái Lan. Việt Nam được chia thành ba miền là Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam. Có hai đồng bằng lớn là đồng băng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Đồng bằng sông Hồng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước và đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.
Với nền khí hậu nhiệt đới âm gió mùa thì thuận lợi đầu tiên có thê thấy là vị trí và lãnh thổ tạo nên sự phân hóa đa dạng về tự nhiên (khí hậu khác nhau giữa hai miền Nam và Bắc). Miền Bắc có khí hậu 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mỗi mùa có đặc điểm riêng. Mùa Xuân bắt đầu từ Tết Nguyên Đán (tháng 2 hoặc tháng 3), nhiệt độ ấm ap, khoảng 20-21 độ C, thích hop cho trồng trọt và diễn ra nhiều lễ hội.
Mùa Hạ bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 7, nhiệt độ cao có thể lên tới 37-38 độ C, đây là mùa vụ thu hoạch nông nghiệp. Mùa Thu bắt đầu từ tháng 8 đến khoảng tháng 10, khí hậu mát mẻ kèm theo năng nhẹ. Mùa Đông nhiệt độ hạ xuống, mức trung bình khoảng 13-15 độ C, có thể thay tuyết rơi ở những núi cao. Miền Nam có kiêu khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, với nhiệt độ trung bình từ 25-35°C và chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thấp.
Miền Nam có hai mùa rõ rệt: mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, mưa thường nặng hạt và nhanh chóng, chủ yếu là về chiều. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Chủ thể văn hoá Việt Nam Việt Nam là một quốc với 54 dân tộc sống đoàn kết và có nhiều phong tục tốt đẹp và lễ hội mang ý nghĩa cộng đồng. Vì Việt Nam có sự đa dạng về đặc điểm khí hậu, cấu trúc địa hình nên có nhiều vùng văn hóa có nét đặc trưng riêng biệt, từ nền văn hóa Kinh Kỳ của người Việt tại đồng bằng sông Hồng đến các đặc trưng văn hóa của các dân tộc tại miền núi Tây Bắc và Đông Bắc, và từ các vùng biên giới ở Bắc Trung Bộ đến văn hóa của người Chămpa tại Nam Trung Bộ và sự kết hợp của văn hóa của người Hoa, người Khmer tại các vùng đất ở Nam Bộ và đa dạng về văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên.
Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, từ ảnh hưởng của Trung Quốc và Đông Nam Á đến ảnh hưởng của Pháp, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21. Việt Nam là đầu mối giao thông của Đông Nam Á, dẫn đến sự giao lưu và tiếp thu kiến thức từ khu vực bên ngoài. Việt Nam đã hấp thụ và cải biến những yếu tố văn hóa dé phủ hợp với nhu cầu phát triển của dân tộc và hội nhập vào đời sống quốc tế hiện nay. Văn hóa Việt Nam có những đặc trưng như tôn kính tổ tiên, tôn trọng giá tri cộng đồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần ct và hiếu học.
Các biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam bao gồm: rồng, rùa, hoa sen và tre. là những hình ảnh xuất hiện nhiều trên trang phục Áo dài Việt Nam. Văn hoá mặc cua Người Việt Nam Trang phục Việt Nam rất đa dạng. Xưa kia, người Việt có quan niệm rất thiết thực về việc ăn mặc, đó là “An chắc, mặc bên.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc mặc trở nên thiết yếu, phục vụ cho nhu cầu lam đẹp của con người với câu nói “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”. Trải qua 4000 năm đất nước Việt Nam bị phương Bắc (Trung Quốc) xâm lăng và dùng đủ mọi cách thức nhăm đồng hoá cách ăn mặc của người Việt theo kiểu phương Bắc, tuy nhiên, nhờ vào nội lực mạnh mẽ của một nền văn hóa bản địa giàu bản sắc từ trước khi bị Trung Quốc xâm lược, Việt Nam vẫn giữ được trọn vẹn các yếu tố văn hoá truyền thống của mình. Tư Mã Thiên cũng cho biệt “cat tóc xăm mình, trô cánh tay, áo vạt trái, ay là dân Au Việt. Người Trung Quốc gọi lối mặc áo cài khuy bên trái của người phương nam là tả nhậm dé phân biệt với lối mặc Áo dài cài khuy bên phải của người Trung Hoa là hữu nhậm [18: tr.
Các nhà nghiên cứu đã khăng định ngay từ thời kỳ đầu mở nước, nghệ thuật dệt vải đã ở trình độ cao, với ít nhất hai loại vải đệt từ cây và sợi. Thời kỳ Ngô — Dinh - Tiền Lê là giai đoạn cực thịnh của ngành dệt may, với sự xuất hiện của nhiều loại vải khác nhau như vải đay, vải gai, vải bông thô. Có thê nói, người Việt đã sử dụng những sản phẩm của nghề trông trot dé tạo ra các loại vải không những mỏng, nhẹ, thoáng mát mà còn rất phù hợp với vùng đất nóng nực. Do nghề trồng dâu nuôi tăm được hình thành từ rất sớm ở Việt Nam, nên chất liệu vải mà được dùng nhiều nhất chính là tơ tằm.
Bên cạnh đó, nhiều chất liệu khác như tơ chuối, gai, sợi bông, to day cũng là những chat liệu được sử dụng nhiều trong nghề dét. Vào những ngày thời tiết lạnh giá, để mặc ấm, người Việt thường mặc nhiều áo lồng vào với nhau. Đây là cách đơn giản và rẻ tiền. Bên cạnh đó, người Việt cũng sử dụng áo bông.
Đây là một loại áo được may độn nhiều bông, giúp giữ ấm cơ thể. Như vậy, trang phục của người Việt theo thời gian đã chịu sự tác động của hai yếu tố chính đến từ môi trường tự nhiên, đó là khí hậu nhiệt đới nóng bức và nền văn minh nông nghiệp. Điều này thê hiện rõ nhất ở chất liệu vải có nguồn gốc từ thực vật. Trong văn hoá Việt Nam cũng có những quy định cụ thé về màu sắc dé phân chia vai về và địa vị xã hội, ví dụ: “màu vàng chỉ được sử dụng trên long phục của nhà vua và nhân dân bị nghiêm cấm sử dung màu sắc này dé may trang phục.
Màu vàng gắn với các vị vua Đại Việt suốt các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Còn về trang phục của các quan, vào đời Vua Lê Ngọa Triều, năm Ứng Thiên thứ 13 (1006), các quan tu tam phẩm trở lên mặc áo màu tía, ngũ phẩm trở lên mặc áo màu đỏ, lục phẩm, that pham mặc áo màu lục, bát phẩm, cửu phẩm mặc áo màu xanh (lam). Đến màu bít tất đi trong hài của từng chức quan cũng được phân định, như năm Minh Mang thứ 13 quy định: quan từ hàm tam pham trở lên thì thân tat dùng lụa màu lam, miệng tat lót băng lụa màu; từ hàm tứ phâm trở xuống thì thân tat dùng lụa mau bạc, phần lót bên trong dùng vải chứ không dùng lụa.” [11] 12 Lối mặc tiêu biểu nhất của phụ nữ Việt Nam là váy. Váy cũng đồng thời là trang phục điển hình của người Đông Nam Á.
Với khí hậu nóng nực, thì váy không chỉ là trang phục thoáng mát, mà còn rất phù hợp với công việc nông nghiệp, vì có thể xăn lên mỗi khi lội nước. Còn ở phía trên, phụ nữ mặc yếm. Những ghi chép đầu tiên về áo yếm trong lịch sử thời trang Việt Nam là vào thời nhà Lý (1009— 1225). Áo yếm vốn là một chiếc áo mặc trong, có kết cau đơn giản nhưng tỉnh tế, lam từ miếng vải vuông mỏng, mỗi chiều chỉ khoảng 40cm (đây là kích cỡ của khung đệt vải ngày xưa) đặt chéo ngực và bụng.
Một góc được khoét làm cô yếm, kèm hai sợi dây dé buộc lại sau lưng. Chiếc yếm là trang phục quen thuộc voi phụ nữ Việt Nam, từ người phụ nữ nông dân cho đến phụ nữ khuê cát cung đình. Đối với phụ nữ nông thôn, họ thường mặc yém nâu. Đối với các phụ nữ ở thành thị, họ thường mặc yếm trắng.
Trong các ngày lẽ hội, những chiếc yếm hồng, yếm đào được nhiều người diện. Áo yếm mặc bên trong, kết hợp với áo tứ thân mặc bên ngoài trở thành trang phục truyền thống ngày lễ hội (Hình PL 1.1) Trang phục phổ biến của nam giới ban đầu là chiếc khó. Khố là một mảnh vai dai, cách mặc khá đơn giản, chỉ cần quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng từ trước ra sau và thả cái đuôi khố ra phía sau hoặc về phía trước. Khi đóng khố thì sẽ không có đồ mặc phía trên.
Khé được đánh giá là trang phục mặc mát, phù hợp với khí hậu nóng ở Việt Nam và dễ dàng cho công việc. Dân dần, khi chiếc quần du nhập vào Việt Nam thì nam giới tiếp thu nó sớm nhất. Quần có ống rộng nên mặc mát và có thể sử dụng một cách linh hoạt, hơn nữa, quan cũng thích hợp với các công việc nông nghiệp, đồng ang. Nam giới Việt Nam khi lao động thường không mặc áo mà hay cởi trần.
Ngoài ra, có | trang phục chung cho cả nam và nữ, đó là áo cánh (gọi ở ngoài Bắc) và áo bà ba (gọi ở miền Nam). Đây là loại áo ngắn, có đính cúc, có hai túi vuông ở dưới tà áo. Áo có thê xẻ tà hai bên hoặc không xẻ tà. Tóm lại trang phục thông dụng của người Việt xưa là loại trang phục giản dị về kiểu dáng và hình thức.
Văn hóa mặc của người Việt thường toát ra đặc điểm giản di, có tính tiện lợi trong thời tiét nóng, địa hình nhiêu sông suôi và điêu kiện 13 lao động nông nghiệp. Các loại quần áo đều thoáng, hở, ngắn và giản tiện tối đa để mát và tiện lợi trong lao động. Trang phục người Việt thường ngày ưa gam mảu trầm (đen, gụ, nâu hoặc màu trắng) không ưa màu sặc sỡ. Trong sách Trung Quốc Lĩnh ngoại đại dap, Chu Khu Phi mô tả người Việt thời Lý “áo thâm, răng đen.
Sử gia Trần Trọng Kim cũng xác nhận tinh trạng trang phục của thường dân người Việt đầu thế kỷ XX là “cách ăn mặc thì chỉ có đồ vải nâu, người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thường thì đóng cái khó, có đi đâu mới mặc cái quan vai dai đến đầu gối.