Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công nghệ tổng hợp tiếng nói từ văn bản (Text-to-Speech - TTS) là thành phần cốt lõi trong các hệ thống tương tác người - máy hiện đại, từ trợ lý ảo trên điện thoại thông minh (Apple Siri, Google Assistant, Amazon Alexa), phương tiện giao thông thông minh (BMW, Ford) đến các thiết bị nhà thông minh. Việc xây dựng một hệ thống tổng hợp tiếng nói chất lượng cao truyền thống đòi hỏi nguồn tài nguyên rất lớn, bao gồm hàng chục giờ thu âm chuẩn phòng thu từ người đọc chuyên nghiệp cùng các nghiên cứu ngôn ngữ học hoàn chỉnh về ngữ âm, âm vị, cú pháp và ngữ nghĩa.

Theo thống kê từ ấn bản thứ 25 của tổ chức Ethnologue, thế giới hiện có 7.151 ngôn ngữ đang được sử dụng thuộc 141 ngữ hệ, nhưng trong đó có tới 2.982 ngôn ngữ chưa có chữ viết chính thức. Phần lớn các công nghệ TTS hiện nay chỉ tập trung vào một số ít ngôn ngữ giàu tài nguyên như tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Quan Thoại hay tiếng Nhật Bản. Đối với các ngôn ngữ ít tài nguyên (low-resourced languages) hoặc ngôn ngữ không có chữ viết (unwritten languages), việc áp dụng các mô hình học máy dựa trên dữ liệu lớn gặp rào cản nghiêm trọng do sự khan hiếm dữ liệu văn bản, dữ liệu âm thanh song ngữ và thiếu vắng các tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ học chuyên sâu.

Tại Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông chiếm ưu thế và đã nhận được sự đầu tư nghiên cứu toàn diện trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên và tiếng nói. Ngược lại, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, tiêu biểu là tiếng Mường, vẫn đối mặt với tình trạng thiếu hụt tài nguyên nghiêm trọng. Tiếng Mường thuộc ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), nhánh Môn-Khmer, nhóm Việt-Mường, có quan hệ họ hàng rất gần gũi với tiếng Việt và là một trong năm nhóm dân tộc có dân số lớn nhất tại Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các phương ngữ tiếng Mường chưa có chữ viết chuẩn hóa (ngoại trừ phương ngữ Mường Hòa Bình được ban hành bộ chữ viết vào năm 2016). Trong thực tế, người Mường thường đọc trực tiếp văn bản tiếng Việt và chuyển đổi sang tiếng Mường trong phát thanh và giao tiếp hàng ngày. Việc nghiên cứu giải pháp tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ ít tài nguyên và chưa có chữ viết như tiếng Mường đặt ra bài toán khoa học mang tính cấp thiết nhằm phục vụ phát thanh truyền thông và bảo tồn các ngôn ngữ có nguy cơ mai một.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Luận án xác định mục tiêu phát triển hệ thống tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ ít tài nguyên, lấy tiếng Mường làm trường hợp thực nghiệm điển hình thông qua các kỹ thuật thích nghi (adaptation) và học chuyển giao (transfer learning) từ ngôn ngữ giàu tài nguyên (tiếng Việt). Luận án phân loại ngôn ngữ ít tài nguyên thành hai nhóm và xác định các hướng giải quyết cụ thể:

  1. Đối với ngôn ngữ ít tài nguyên có chữ viết (Written low-resourced languages): Nghiên cứu phương pháp mô phỏng đầu vào (emulating input) dựa trên hệ thống TTS tiếng Việt sẵn có và phương pháp học chuyển giao xuyên ngôn ngữ (cross-lingual transfer learning) để tinh chỉnh mô hình với lượng dữ liệu tiếng Mường hạn chế.
  2. Đối với ngôn ngữ ít tài nguyên không có chữ viết (Unwritten low-resourced languages): Nghiên cứu hai hướng tiếp cận gồm: (1) tổng hợp tiếng nói tiếng Mường trực tiếp từ văn bản tiếng Việt và giọng đọc tiếng Mường; (2) dịch văn bản tiếng Việt sang biểu diễn trung gian dạng chuỗi âm vị (intermediate representation) của tiếng Mường, sau đó tổng hợp tiếng nói từ chuỗi âm vị này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phương pháp và mô hình tổng hợp tiếng nói áp dụng cho ngôn ngữ ít tài nguyên và ngôn ngữ không có chữ viết; quan hệ cấu trúc ngữ âm và thanh điệu giữa tiếng Việt và tiếng Mường.
  • Phạm vi không gian và phương ngữ: Thực nghiệm tập trung vào hai phương ngữ tiếng Mường đại diện:
    • Phương ngữ Mường Bi (tỉnh Hòa Bình): Đại diện cho nhóm phương ngữ có chữ viết (sử dụng bộ chữ viết ban hành năm 2016).
    • Phương ngữ Mường Tân Sơn (tỉnh Phú Thọ): Đại diện cho nhóm phương ngữ không có chữ viết.
  • Phạm vi đề tài và thời gian: Luận án được thực hiện trong khuôn khổ và phối hợp với đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước mã số DLCN.20/17: "Nghiên cứu xây dựng hệ dịch tự động văn bản tiếng Việt ra tiếng nói tiếng Mường, hướng đến áp dụng cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số chưa có chữ viết ở Việt Nam". Toàn bộ nghiên cứu hoàn thành và bảo vệ năm 2023 tại Đại học Bách khoa Hà Nội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tiến trình phát triển của các phương pháp tổng hợp tiếng nói

Luận án điểm lại lịch sử phát triển của công nghệ tổng hợp tiếng nói qua các mốc thời gian:

  • Thập niên 1950: Homer Dudley phát triển hệ thống "VODER" và Franklin S. Cooper phát triển "Pattern Playback", đặt nền móng sơ khai cho việc tạo tiếng nói nhân tạo.
  • Thập niên 1960: Phương pháp tổng hợp dựa trên formant (formant-based synthesis), mô phỏng sự cộng hưởng của đường dẫn thanh âm.
  • Thập niên 1970: Phương pháp mã hóa dự đoán tuyến tính (Linear Predictive Coding - LPC), hỗ trợ mô hình hóa tín hiệu tiếng nói tự nhiên hơn.
  • Thập niên 1980: Phương pháp tổng hợp ghép nối (Concatenative synthesis), ghép các đoạn âm thanh thu âm sẵn để tạo chuỗi âm thanh hoàn chỉnh.
  • Thập niên 1990: Phương pháp lựa chọn đơn vị (Unit selection synthesis) theo các nghiên cứu của Zen (2009), Black và Campbell (1995), Hunt và Black (1996). Phương pháp này tính toán chi phí mục tiêu (target cost) và chi phí nối ghép (concatenation cost) thông qua giải thuật tìm kiếm Viterbi hoặc phân cụm cây quyết định.
  • Thập niên 2000: Phương pháp tổng hợp tham số thống kê (Statistical Parametric Speech Synthesis - SPSS), tiêu biểu là hệ thống HMM-based Speech Synthesis (HTS) của Zen và cộng sự (2007, 2009), Tokuda và cộng sự (2013). Hệ thống sử dụng mô hình Markov ẩn (HMM) phụ thuộc ngữ cảnh, ước lượng hợp lý cực đại (MLE) thông qua thuật toán Expectation-Maximization (EM), phân phối thời lượng trạng thái Gamma/Gaussian và bộ lọc tổng hợp Mel Log Spectrum Approximation (MLSA).
  • Thập niên 2010 đến nay: Ứng dụng mạng nơ-ron sâu (DNN) của Ze và cộng sự (2013), Zen và cộng sự (2013); các mô hình Neural TTS tạo trực tiếp dạng sóng như WaveNet của van den Oord và cộng sự (Google DeepMind, 2016) sử dụng mạng tích chập nhân quả giãn nở (dilated causal convolutions), DeepVoice 2 (Gibiansky và cộng sự, 2017), Deep Voice 3 (Ping và cộng sự, 2018), FastSpeech 2 (Ren và cộng sự, 2020), ClariNet (2018), EATS (2020). Các hệ thống End-to-End Seq2Seq tiêu biểu gồm Char2Wav (Sotelo và cộng sự, 2017), Tacotron (Wang và cộng sự, 2017) với kiến trúc CBHG và thuật toán Griffin-Lim, Tacotron 2 (Shen và cộng sự, 2017) kết hợp mạng dự đoán chuỗi đặc trưng Mel-spectrogram với WaveNet vocoder, VITS (Kim và cộng sự, 2021) kết hợp Conditional VAE với mạng sinh đối nghịch GAN, NaturalSpeech (Tan và cộng sự, 2022), và bộ tái tạo tín hiệu âm thanh HiFi-GAN (Kong và cộng sự, 2020), WaveGlow (Prenger và cộng sự, 2019).

Các hướng nghiên cứu cho ngôn ngữ ít tài nguyên

Luận án tổng hợp các hướng tiếp cận chính trên thế giới đối với ngôn ngữ ít tài nguyên:

  • Phương pháp mô phỏng đầu vào (Emulating input approach): Evans và cộng sự (2000) phát triển bộ mô phỏng đầu vào cho các ngôn ngữ như tiếng Hy Lạp, Albania, Séc và xứ Wales thông qua quy tắc chuyển đổi ký tự sang âm vị (G2P) và chuyển sang bộ tổng hợp âm thanh của ngôn ngữ khác; Somers và cộng sự (2006, 2007) áp dụng mô phỏng tiếng Somali dựa trên ngôn ngữ giàu tài nguyên, đánh giá bằng thang đo Modified Rhyme Test (MRT) và Mean Opinion Score (MOS).
  • Phương pháp đa ngữ (Polyglot/Multilingual TTS): Samsudin và cộng sự (2003, 2004) phát triển hệ thống HTS đa ngữ dùng chung giọng đọc; Romsdorfer và cộng sự (1999) xử lý tổng hợp văn bản hỗn hợp ngôn ngữ; Ziyao Zhang (2020) nghiên cứu thực nghiệm bóc tách (ablation study) về sự ảnh hưởng của họ ngôn ngữ, giới tính và số lượng người nói trong tập dữ liệu đơn ngữ đến chất lượng tổng hợp đa ngữ.
  • Phương pháp thích nghi và học chuyển giao (Adaptation and Transfer Learning): Xu Tan (2021) khảo sát tổng thể về TTS cho ngôn ngữ ít tài nguyên; Yuan-Jui Chen và cộng sự (2019) đề xuất mạng biến đổi ngữ âm (Phonetic Transformation Network - PTN) để ánh xạ không gian ký hiệu âm vị giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích; Sahar Jamal và cộng sự (2019) sử dụng mô hình Tacotron tiền huấn luyện từ tiếng Anh và tiếng Ả Rập để chuyển giao sang tiếng Urdu; Marlene Staib và cộng sự (2020) thay thế đầu vào ký tự của Tacotron 2 bằng tập đặc trưng IPA; Huybrechts và cộng sự (2020) đề xuất quy trình tăng cường dữ liệu 3 bước chỉ với 15 phút ghi âm; Muthukumar và cộng sự (2018) nghiên cứu biểu diễn ngữ âm cho ngôn ngữ không chữ viết.
  • Dịch máy và biểu diễn trung gian: Luận án điểm lại mô hình dịch máy thống kê dựa trên cụm từ (Phrase-based SMT) từ ý tưởng của Warren Weaver (1949), nhóm nghiên cứu IBM (1991), Koehn và cộng sự (2003), Och và Ney (2004) với mô hình log-linear và giải thuật giải mã A* hoặc Beam search; mô hình dịch máy nơ-ron (NMT) Seq2Seq của Sutskever và cộng sự (2014), Cho và cộng sự (2014) kết hợp cơ chế chú ý (Attention mechanism) của Bahdanau và cộng sự (2014).

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Trong bối cảnh các nghiên cứu về xử lý tiếng nói cho ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam còn rất hạn chế, luận án định vị là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên giải quyết bài toán tổng hợp tiếng nói tiếng Mường ở cả hai trạng thái có chữ viết (Mường Bi) và không có chữ viết (Mường Tân Sơn), kết hợp các kỹ thuật thích nghi ngữ âm, học chuyển giao xuyên ngôn ngữ từ tiếng Việt và mô hình dịch máy sang biểu diễn trung gian âm vị.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình tính toán

Luận án xây dựng trên nền tảng các lý thuyết xử lý ngôn ngữ tự nhiên và âm học:

  • Mô hình kiến trúc tổng hợp tiếng nói Neural TTS: Kiến trúc End-to-End Seq2Seq (Tacotron 2) tiếp nhận chuỗi ký tự hoặc âm vị đầu vào, trích xuất biểu diễn ngữ cảnh qua bộ mã hóa (Encoder), đưa qua bộ giải mã (Decoder) kết hợp cơ chế chú ý (Location-sensitive Attention) để dự đoán chuỗi đặc trưng phổ Mel-spectrogram 80 chiều.
  • Mô hình Vocoder nơ-ron: HiFi-GAN (sử dụng cấu trúc Multi-Scale Generator kết hợp Multi-Period Discriminator và Multi-Scale Discriminator) và WaveGlow (mô hình dòng chảy dựa trên biến đổi khả nghịch không cần vòng lặp tự hồi quy) nhằm tổng hợp dạng sóng âm thanh từ Mel-spectrogram.
  • Lý thuyết dịch máy thống kê và nơ-ron: Áp dụng định lý Bayes trong dịch máy cụm từ:

$$\hat{e}(f) = \arg\max_{e} p(e) \cdot p(f|e)$$

kết hợp mô hình log-linear với các hàm đặc trưng gồm mô hình ngôn ngữ $p(e)$, xác suất dịch cụm từ hai chiều $\log p(f|e)$, $\log p(e|f)$, mô hình chuyển vị $d_g$, và giải thuật giải mã Beam Search.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp ngôn ngữ học so sánh đối chiếu (Định tính): Khảo sát cấu trúc âm tiết, hệ thống âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và hệ thống thanh điệu giữa tiếng Việt (phương ngữ Hà Nội) và tiếng Mường (Mường Bi và Mường Tân Sơn); phân tích sự tương ứng từ vựng qua 12 từ chỉ bộ phận cơ thể người.
  • Phương pháp thực nghiệm mô hình hóa (Định lượng):
    • Kỹ thuật mô phỏng quy tắc (Emulating): Xây dựng mô-đun IPA mô phỏng, biến đổi văn bản tiếng Mường thành chuỗi ký tự tương đương của tiếng Việt để phát âm qua hệ thống TTS tiếng Việt sẵn có mà không cần huấn luyện lại.
    • Kỹ thuật học chuyển giao (Transfer Learning): Tiền huấn luyện mô hình Tacotron 2 trên tập dữ liệu tiếng Việt quy mô lớn, sau đó tinh chỉnh (fine-tune) mô hình âm học với các tập dữ liệu tiếng Mường có dung lượng khác nhau (15 phút, 30 phút, 60 phút).
    • Kỹ thuật tạo tiếng nói trực tiếp (Direct L1 Text to L2 Speech): Huấn luyện mô hình End-to-End nhận đầu vào là văn bản tiếng Việt và sinh ra trực tiếp giọng đọc tiếng Mường.
    • Kỹ thuật biểu diễn trung gian (Intermediate Representation): Kết hợp hệ thống dịch văn bản tiếng Việt sang chuỗi âm vị tiếng Mường (Text-to-Phone) và mô hình tổng hợp âm thanh từ chuỗi âm vị (Phone-to-Sound).
  • Phương pháp đánh giá và kiểm định thống kê:
    • Đánh giá chủ quan: Điểm số ý kiến trung bình (Mean Opinion Score - MOS) đánh giá độ tự nhiên và bài kiểm tra tính dễ hiểu (Intelligibility test) đánh giá độ rõ của âm vị và thanh điệu, thực hiện bởi các tình nguyện viên bản ngữ người Mường tại Hòa Bình và Phú Thọ.
    • Đánh giá khách quan: Độ méo phổ Mel-Cepstral (Mel-Cepstral Distortion - MCD) kết hợp nắn chỉnh thời gian động Dynamic Time Warping (MCD-DTW).
    • Kiểm định thống kê: Phân tích phương sai (Analysis of Variance - ANOVA) để xác định mức ý nghĩa thống kê ($p$-value so với giả thuyết vô hiệu $H_0$) của sự khác biệt giữa các mô hình trên tập thử nghiệm trong miền (in-domain) và ngoài miền (out-domain).

Nguồn dữ liệu thực nghiệm

  • Dữ liệu tiếng Việt: Tập dữ liệu tiếng Việt chuẩn (VNSpeechCorpus và dữ liệu ghi âm chất lượng cao) dùng cho tiền huấn luyện mô hình âm học và vocoder.
  • Dữ liệu tiếng Mường (thu thập từ đề tài DLCN.20/17):
    • Dữ liệu âm thanh thu âm từ người bản ngữ phương ngữ Mường Bi (Hòa Bình) và Mường Tân Sơn (Phú Thọ).
    • Các tập dữ liệu phân chia theo thời lượng huấn luyện: M_15m (15 phút), M_30m (30 phút), M_60m (60 phút).
    • Tập văn bản song ngữ và bán tự động gán nhãn chuỗi âm vị phục vụ mô hình dịch máy và biểu diễn trung gian.

Nội dung chính theo từng chương

Chapter 1: Overview of speech synthesis and speech synthesis for low-resourced language

Chương 1 trình bày tổng quan hệ thống về lý thuyết tổng hợp tiếng nói và các giải pháp kỹ thuật cho ngôn ngữ ít tài nguyên. Nội dung chương tập trung vào:

  • Kiến trúc cơ bản của hệ thống TTS truyền thống gồm 4 thành phần: Xử lý văn bản (Text Processing), Chuyển đổi ký tự sang âm vị (G2P Conversion), Mô hình hóa ngữ điệu (Prosody Modeling), và Tổng hợp dạng sóng âm thanh (Speech Synthesis).
  • Phân tích chi tiết các kỹ thuật tổng hợp qua các thời kỳ: Lựa chọn đơn vị (Unit-selection) dựa trên tối ưu hóa hàm chi phí mục tiêu và chi phí ghép nối; Tổng hợp tham số thống kê (SPSS) dựa trên HMM và thuật toán EM; Mạng nơ-ron sâu (DNN) mô hình hóa phi tuyến; Các kiến trúc Neural TTS hiện đại (WaveNet, Char2Wav, Tacotron, Tacotron 2, VITS, NaturalSpeech, HiFi-GAN).
  • Tổng hợp ba hướng tiếp cận chính cho ngôn ngữ ít tài nguyên: Kỹ thuật mô phỏng đầu vào (Emulating), Kỹ thuật tổng hợp đa ngữ (Polyglot), và Kỹ thuật thích nghi/học chuyển giao xuyên ngôn ngữ (Adaptation/Cross-lingual Transfer Learning).
  • Cơ sở lý thuyết về dịch máy thống kê (Phrase-based SMT), dịch máy nơ-ron (NMT với cơ chế Attention) và kiến trúc dịch tiếng nói thông qua biểu diễn âm vị trung gian cho ngôn ngữ không có chữ viết.
  • Các tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá chất lượng tiếng nói tổng hợp: Thang đo chủ quan MOS, thang đo khách quan MCD, MCD-DTW và phương pháp phân tích phương sai ANOVA.

Chapter 2: Vietnamese and Muong language

Chương 2 phân tích đặc điểm ngôn ngữ học và so sánh đối chiếu ngữ âm giữa tiếng Việt và tiếng Mường:

  • Lịch sử và cấu trúc ngữ âm tiếng Việt: Cấu trúc âm tiết tiếng Việt bao gồm âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu; hệ thống phụ âm đầu phương ngữ Hà Nội, hệ thống phụ âm cuối và hệ thống 6 thanh điệu (ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng).
  • Tổng quan về người Mường và tiếng Mường: Tiếng Mường thuộc nhóm Việt-Mường trong ngữ hệ Nam Á; phân bố phương ngữ và tình trạng chữ viết (phương ngữ Mường Hòa Bình được xây dựng chữ viết năm 2016; các vùng khác như Mường Phú Thọ không có chữ viết chính thức).
  • Cấu trúc ngữ âm tiếng Mường: Cấu trúc âm tiết tiếng Mường, hệ thống phụ âm đầu, hệ thống nguyên âm, hệ thống âm cuối và hệ thống thanh điệu tiếng Mường Hòa Bình (Mường Bi) và tiếng Mường Phú Thọ (Mường Tan Son).
  • Bảng so sánh ngữ âm và thanh điệu giữa tiếng Việt và tiếng Mường (Mường Bi và Mường Tân Sơn): Đối chiếu sự tương đồng và khác biệt về ký hiệu âm vị quốc tế (IPA), các trường hợp phụ âm đầu/cuối tương đương và khác biệt, cùng quy luật biến đổi từ vựng qua 12 từ chỉ bộ phận cơ thể người.
Thành phần ngữ âm Tiếng Việt (Hà Nội) Tiếng Mường Bi (Hòa Bình) Tiếng Mường Tân Sơn (Phú Thọ)
Ngữ tộc / Ngữ hệ Nam Á (Việt-Mường) Nam Á (Việt-Mường) Nam Á (Việt-Mường)
Chữ viết chính thức Chữ Quốc ngữ Bộ chữ Mường Hòa Bình (2016) Chưa có chữ viết (Unwritten)
Cấu trúc âm tiết Âm đầu - Âm đệm - Âm chính - Âm cuối - Thanh điệu Âm đầu - Âm đệm - Âm chính - Âm cuối - Thanh điệu Âm đầu - Âm đệm - Âm chính - Âm cuối - Thanh điệu
Số lượng thanh điệu 6 thanh 6 thanh Phân bố thanh điệu theo phương ngữ
Tương ứng từ vựng Có quan hệ họ hàng gần gũi Tương đồng cao về từ gốc Tương đồng cao về từ gốc

Chapter 3: Emulating of the Muong TTS based on input transformation of the Vietnamese TTS

Chương 3 đề xuất giải pháp tổng hợp tiếng nói tiếng Mường có chữ viết (Mường Bi) bằng phương pháp mô phỏng đầu vào dựa trên hệ thống TTS tiếng Việt sẵn có mà không cần thu âm dữ liệu giọng đọc tiếng Mường để huấn luyện mới:

  • Thiết kế mô-đun IPA mô phỏng cho tiếng Mường (Muong emulating IPA module), thiết lập tập luật chuyển đổi văn bản chữ viết tiếng Mường sang văn bản đầu vào cho hệ thống TTS tiếng Việt dựa trên sự tương đồng ngữ âm giữa hai ngôn ngữ.
  • Xây dựng tài liệu kiểm thử cho các thanh điệu mô phỏng, các âm vị tương đương gần và các âm vị còn lại.
  • Thực hiện kiểm thử tính dễ hiểu (Intelligibility Test) trên các âm vị và thanh điệu mô phỏng; đánh giá thang điểm MOS về độ tự nhiên.
  • Áp dụng phân tích phương sai ANOVA để kiểm định độ tin cậy của kết quả đánh giá MOS và độ rõ âm thanh, chứng minh tính khả thi của phương pháp mô phỏng trong việc tạo nhanh hệ thống tổng hợp tiếng nói cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số có chữ viết nhưng thiếu dữ liệu thu âm.

Chapter 4: Cross-lingual transfer learning for Muong speech synthesis

Chương 4 nghiên cứu giải pháp học chuyển giao xuyên ngôn ngữ cho tiếng Mường có chữ viết nhằm nâng cao chất lượng âm thanh so với phương pháp mô phỏng:

  • Xây dựng bộ công cụ chuyển đổi ký tự sang âm vị (G2P) cho chữ viết tiếng Mường; chuẩn bị các tập dữ liệu huấn luyện tiếng Mường từ dự án DLCN.20/17 gồm ba mức thời lượng: M_15m (15 phút), M_30m (30 phút) và M_60m (60 phút).
  • Huấn luyện mô hình âm học Tacotron 2 tiền huấn luyện trên tập dữ liệu tiếng Việt quy mô lớn, sau đó tinh chỉnh mô hình với các tập dữ liệu tiếng Mường; sử dụng mạng HiFi-GAN làm vocoder tái tạo tín hiệu âm thanh dạng sóng.
  • Đánh giá chất lượng tiếng nói tổng hợp trên hai tập kiểm thử: trong miền (in-domain) và ngoài miền (out-domain).
  • Phân tích thống kê ANOVA đối với kết quả MOS trên tập in-domain, out-domain và so sánh tổng thể giữa các tập dữ liệu, làm rõ mối quan hệ giữa dung lượng dữ liệu tinh chỉnh (15, 30, 60 phút) và chất lượng tiếng nói tiếng Mường được tổng hợp.

Chapter 5: Generate unwritten low-resourced language’s speech directly from rich-resource language’s text

Chương 5 giải quyết bài toán tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ ít tài nguyên không có chữ viết bằng phương pháp tiếp cận trực tiếp từ văn bản của ngôn ngữ giàu tài nguyên (tiếng Việt - L1 Text) sang tiếng nói của ngôn ngữ không chữ viết (tiếng Mường - L2 Speech):

  • Xây dựng hệ thống TTS End-to-End nơ-ron nhận đầu vào trực tiếp là văn bản tiếng Việt và sinh ra trực tiếp tiếng nói tiếng Mường, loại bỏ bước trung gian văn bản tiếng Mường.
  • Áp dụng mô hình âm học Tacotron 2 kết hợp với WaveGlow vocoder cho cả hai phương ngữ: Mường Bi (Hòa Bình) và Mường Tân Sơn (Phú Thọ).
  • Đánh giá chất lượng hệ thống thông qua kiểm thử MOS trên tập dữ liệu trong miền và ngoài miền.
  • Thực hiện phân tích ANOVA chi tiết cho kết quả thử nghiệm tiếng nói phương ngữ Mường Bi và Mường Tân Sơn, chứng minh khả năng học biểu diễn phát âm tiếng Mường trực tiếp từ câu chữ tiếng Việt tương ứng.

Chapter 6: Speech synthesis for Unwritten low-resourced language using intermediate representation

Chương 6 đề xuất phương pháp tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ không chữ viết thông qua biểu diễn trung gian dạng chuỗi âm vị (Intermediate Representation):

  • Quy trình gồm hai giai đoạn độc lập:
    • Giai đoạn 1 (Text-to-Phone Translation): Dịch văn bản tiếng Việt sang chuỗi âm vị trung gian của hai phương ngữ tiếng Mường (Mường Bi và Mường Tân Sơn) thông qua mô hình dịch máy.
    • Giai đoạn 2 (Phone-to-Sound Conversion): Tổng hợp tiếng nói từ chuỗi âm vị tiếng Mường đã được dịch bằng mô hình âm học và vocoder.
  • Đánh giá thực nghiệm chất lượng trên cả hai phương ngữ Mường Bi và Mường Tân Sơn đối với tập dữ liệu in-domain và out-domain.
  • Phân tích phương sai ANOVA đánh giá điểm MOS của phương pháp biểu diễn trung gian; so sánh đối chiếu kết quả giữa ba phương pháp tổng hợp trên phương ngữ Mường Bi (Mô phỏng, Học chuyển giao, Biểu diễn trung gian) và hai phương pháp trên phương ngữ Mường Tân Sơn (Trực tiếp End-to-End và Biểu diễn trung gian).

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và kỹ thuật

  1. Phương pháp tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ ít tài nguyên có chữ viết:
    • Đề xuất kỹ thuật thích nghi mô phỏng (Emulating approach) dựa trên việc chuyển đổi đầu vào của hệ thống TTS tiếng Việt sang ký hiệu âm vị tiếng Mường, cho phép tạo tiếng nói tổng hợp tiếng Mường có thể hiểu được mà không cần dữ liệu thu âm huấn luyện.
    • Đề xuất quy trình học chuyển giao xuyên ngôn ngữ (Cross-lingual transfer learning) từ mô hình tiền huấn luyện tiếng Việt sang tiếng Mường, chứng minh việc tinh chỉnh với lượng dữ liệu rất nhỏ (từ 15 phút đến 60 phút) kết hợp HiFi-GAN vocoder giúp tạo ra giọng nói tự nhiên, rõ ràng.
  2. Phương pháp tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ ít tài nguyên không có chữ viết:
    • Đề xuất mô hình mạng nơ-ron End-to-End tổng hợp trực tiếp tiếng nói ngôn ngữ không chữ viết (L2 - tiếng Mường) từ văn bản ngôn ngữ giàu tài nguyên (L1 - tiếng Việt) sử dụng kiến trúc Tacotron 2 và WaveGlow.
    • Đề xuất kiến trúc hai chặng sử dụng biểu diễn âm vị trung gian (Text-to-Phone kết hợp Phone-to-Sound), giải quyết bài toán thiếu chữ viết chuẩn hóa cho hai phương ngữ Mường Bi và Mường Tân Sơn.
  3. Đóng góp về mặt ngữ âm học và tư liệu ngôn ngữ tính toán:
    • Xây dựng bảng so sánh, ánh xạ âm vị chi tiết giữa tiếng Việt và hai phương ngữ tiếng Mường (Mường Bi, Mường Tân Sơn).
    • Công bố bộ công cụ chuyển đổi G2P và các tài liệu phục vụ tiền xử lý văn bản, ngữ âm cho tiếng Mường.

Kết quả ứng dụng thực tiễn

Toàn bộ các mô hình và giải pháp nghiên cứu trong luận án đã được tích hợp và ứng dụng trực tiếp vào đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước mã số DLCN.20/17, phục vụ việc xây dựng hệ thống dịch tự động từ văn bản tiếng Việt sang tiếng nói tiếng Mường, tạo cơ sở triển khai các ứng dụng phát thanh truyền thanh cơ sở và bảo tồn ngôn ngữ cho cộng đồng người Mường tại Hòa Bình và Phú Thọ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Chất lượng tiếng nói tổng hợp cho các câu ngoài miền thử nghiệm (out-domain) và các cấu trúc câu dài, phức tạp vẫn còn khoảng cách so với giọng đọc tự nhiên trong miền (in-domain).
  • Phương pháp mô phỏng đầu vào (Chương 3) bị giới hạn bởi sự sai khác ngữ âm giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, dẫn đến chất lượng tự nhiên chưa cao ở một số âm vị đặc thù không có trong tiếng Việt.
  • Dung lượng dữ liệu âm thanh tiếng Mường thu thập phục vụ thực nghiệm còn khiêm tốn do hạn chế về người đọc bản ngữ chuẩn và kinh phí thu âm.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu các kỹ thuật học chuyển giao, học không giám sát (unsupervised learning) và tăng cường dữ liệu (data augmentation) cho xử lý tiếng nói với dữ liệu siêu nhỏ.
  • Đầu tư nghiên cứu thu thập, bảo tồn và số hóa dữ liệu ngữ âm chuyên sâu cho các phương ngữ tiếng Mường khác nhau.
  • Mở rộng áp dụng khung phương pháp (mô phỏng, chuyển giao, biểu diễn trung gian) cho 53 ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác tại Việt Nam, đặc biệt là các ngôn ngữ chưa có hệ thống chữ viết.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và kỹ sư ngành Công nghệ thông tin: Chuyên ngành Khoa học máy tính, Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP), Xử lý tín hiệu âm thanh và tiếng nói, đặc biệt là những người nghiên cứu các bài toán học chuyển giao và xử lý ngôn ngữ ít tài nguyên.
  • Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và nhân học: Tham khảo các phân tích so sánh đối chiếu ngữ âm, thanh điệu, cấu trúc âm tiết giữa tiếng Việt và các phương ngữ tiếng Mường.
  • Cơ quan quản lý nhà nước, đài phát thanh - truyền hình địa phương và Ban Dân tộc: Tham khảo giải pháp kỹ thuật để xây dựng hệ thống phát thanh tự động, báo nói tiếng dân tộc thiểu số từ văn bản tiếng Việt.

Các nội dung đáng tham khảo

  • Chương 2 cung cấp hệ thống tư liệu ngữ âm so sánh chi tiết giữa tiếng Việt và tiếng Mường Bi, Mường Tân Sơn.
  • Chương 3 và Chương 4 cung cấp quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh để xây dựng hệ thống TTS cho ngôn ngữ có dữ liệu thu âm hạn chế (từ 0 đến 60 phút).
  • Chương 5 và Chương 6 cung cấp khung kiến trúc mẫu mực cho bài toán dịch và tổng hợp tiếng nói cho các ngôn ngữ không có chữ viết.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại ngôn ngữ ít tài nguyên thành những nhóm nào và chọn đối tượng thực nghiệm cụ thể là gì?

Luận án phân loại ngôn ngữ ít tài nguyên thành hai nhóm: (1) Nhóm có chữ viết (Written low-resourced languages) và (2) Nhóm không có chữ viết (Unwritten low-resourced languages). Đối tượng thực nghiệm cụ thể là tiếng Mường tại Việt Nam, trong đó phương ngữ Mường Bi (tỉnh Hòa Bình) đại diện cho nhóm có chữ viết (sử dụng bộ chữ ban hành năm 2016) và phương ngữ Mường Tân Sơn (tỉnh Phú Thọ) đại diện cho nhóm không có chữ viết.

2. Phương pháp mô phỏng đầu vào (Emulating approach) ở Chương 3 hoạt động như thế nào?

Phương pháp mô phỏng đầu vào tận dụng hệ thống TTS tiếng Việt sẵn có mà không cần thu âm giọng đọc tiếng Mường để huấn luyện mới. Mô hình sử dụng mô-đun IPA mô phỏng cùng các quy tắc chuyển đổi văn bản chữ viết tiếng Mường thành chuỗi ký tự tương đương của tiếng Việt dựa trên sự gần gũi về ngữ âm giữa hai ngôn ngữ, sau đó đưa qua bộ tổng hợp tiếng Việt để phát âm.

3. Trong kỹ thuật học chuyển giao xuyên ngôn ngữ (Chương 4), tác giả sử dụng các mức dữ liệu huấn luyện nào và mô hình vocoder nào?

Trong Chương 4, tác giả thực hiện tiền huấn luyện mô hình âm học Tacotron 2 trên tập dữ liệu tiếng Việt quy mô lớn, sau đó tinh chỉnh (fine-tune) trên ba tập dữ liệu tiếng Mường với các mốc thời lượng gồm: 15 phút (M_15m), 30 phút (M_30m) và 60 phút (M_60m). Mô hình vocoder được sử dụng để tái tạo dạng sóng âm thanh từ Mel-spectrogram là HiFi-GAN.

4. Hai hướng tiếp cận chính được đề xuất để tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ không có chữ viết là gì?

Hai hướng tiếp cận chính gồm:

  1. Tổng hợp trực tiếp (Chương 5): Sử dụng mô hình mạng nơ-ron End-to-End tiếp nhận trực tiếp văn bản tiếng Việt (L1) và sinh ra tiếng nói tiếng Mường (L2) thông qua mô hình âm học Tacotron 2 và WaveGlow vocoder.
  2. Tổng hợp qua biểu diễn trung gian (Chương 6): Sử dụng quy trình hai chặng, gồm mô-đun dịch văn bản tiếng Việt sang chuỗi âm vị trung gian của tiếng Mường (Text-to-Phone), sau đó sử dụng mô-đun tổng hợp tiếng nói từ chuỗi âm vị đó (Phone-to-Sound).

5. Luận án gắn liền với đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước nào và kết quả được ứng dụng ra sao?

Luận án được thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước mã số DLCN.20/17: "Nghiên cứu xây dựng hệ dịch tự động văn bản tiếng Việt ra tiếng nói tiếng Mường, hướng đến áp dụng cho các ngôn ngữ dân tộc thiểu số chưa có chữ viết ở Việt Nam". Toàn bộ các mô hình và giải pháp kỹ thuật của luận án đã được chuyển giao, tích hợp thành công vào hệ thống dịch tự động của đề tài để phục vụ truyền thông phát thanh cho đồng bào người Mường.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ ngành Khoa học máy tính của nghiên cứu sinh Phạm Văn Đồng đã giải quyết bài toán tổng hợp tiếng nói cho ngôn ngữ ít tài nguyên và chưa có chữ viết, lấy tiếng Mường làm trường hợp ứng dụng điển hình. Thông qua việc phân loại đối tượng thành nhóm có chữ viết (Mường Bi) và không có chữ viết (Mường Tân Sơn), luận án đã đề xuất và thực nghiệm thành công các phương pháp mô phỏng đầu vào, học chuyển giao xuyên ngôn ngữ với dữ liệu nhỏ (15–60 phút), tổng hợp trực tiếp từ văn bản tiếng Việt và tổng hợp qua biểu diễn âm vị trung gian. Các kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp giá trị học thuật trong lĩnh vực xử lý tiếng nói và ngôn ngữ học tính toán mà còn được ứng dụng trực tiếp vào đề tài cấp Nhà nước DLCN.20/17, mở ra hướng ứng dụng thực tiễn cho 53 ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam.