Chương I: VẬN DUNG MOT SỐ PHUONG PHAP THONG KE DANH GIA KET QUA HOAT DONG DU LICH VIET NAM THOT KY 2001-2010 Trong điều kiện kiến thức và thời gian hạn chế không thê tránh khỏi những sai sót và nhận xét không đầy đủ. Em rất mong nhận được sự đóng góp của các bạn và các thầy cô trong Khoa Thống Kê. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thạc Sĩ Trần Thị Bích và các thầy cô trong Khoa Thống Kê đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu đê em có thê hoàn thiện được chuyên đê này. Em xin chân thành cảm ơn! SV: Nguyễn Thị Thu Hà CHUONG I: KHÁI QUAT CHUNG VE KET QUA HOAT DONG DU LICH VA HE THONG CHI TIEU THONG KE NGHIEN CUU KET QUA HOAT DONG DU LICH I.
KHÁI NIỆM VE DU LICH VA NGÀNH DU LICH 1. Khái niệm và phân loại về du lịch Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phố biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển. Trong đó có Việt Nam. Hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến cuộc sống con n8ười, nó đáp ứng được các nhu cầu của cong người, của xã hội.
Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về du lịch vẫn chưa thống nhất. Hiện nay, CÓ rất nhiều tác giả nghiên cứu về du lịch do đó có rất nhiều khái niệm về du lịch, trong các khái niệm này có những điểm khác biệt do các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung có một số cách tiếp cận phổ biến nhất về du lịch như sau: * Một là, coi du lịch là một hiện tượng xã hội. Với cách tiếp cận này, du lịch được hiểu là: Theo Ausher: du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân.
Theo Nguyễn Khắc Viện: du lịch lịch là mở rộng không gian văn hoá con người, nghĩa là đi chơi cho biết xứ người. Theo Glusman: “ du lịch là sự khắc phục về mặt không gian văn hoá của con người hướng tới một điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ”. Theo Guer Freuler: “du lịch là một hiện tượng của thời đại, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”. *Hai là, coi du lịch là quá trình hoạt động cua con người trong xã hội.
Theo cách tiếp cận này có một số khái niệm như sau: Theo Phó tiến sĩ Trần Nhạn: “du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích là được thâm nhận những giá 6 SV: Nguyễn Thị Thu Hà trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương không nhăm mục đích sinh lời được tính băng đồng tiền”. Theo Hunziker và Kraf: “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời cuả các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”. *Ba là, coi du lịch là một ngành kinh té. Theo cách tiép cận này có các khái niệm sau: Theo nhà kinh tế học Kalfiotis: “du lịch là sự di chuyên tạm thời của các cá nhân hay tập thé từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh than, đạo đức do đó tạo nên các mỗi quan hệ kinh tế ”, Năm 1963, Hội nghị Liên hợp Quốc cho răng: “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình”.
Còn các học giả Việt Nam cho rang du lịch phải được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “du lịch là một đợt nghỉ dương sức tham quan tích cực của con người ngoai nơi cu trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình van hoá, nghệ thuật,. Nghĩa thứ hai: “du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị đối với dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch có thé coi là hình thức xuất khâu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ”. Tuy nhiên, đưới góc độ nghiên cứu thống kê, du lịch cần được hiểu theo nghĩa day đủ nhất nhăm phục vụ cho quá trình thống kê du lịch. Vì vậy, Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa — Canada ngày 24-28/6/1991 đã thống nhất khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động cua con người di tới một môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức SV: Nguyễn Thị Thu Hà du lịch quy định trước, mục dich của chuyến di không phải dé tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm ”.
Khái niệm trên là cơ sở định tính và lượng hoá trong việc thống kê du lịch nói chung và thống kê kết quả hoạt động du lịch nói riêng. Mặt khác, khái niệm này được áp dụng cho mọi phạm vi nghiên cứu. Nó cho biết du lịch bao gồm cả các chuyến đi ra khỏi môi trường thường xuyên của con người trong một ngày không nghỉ qua đêm hoặc nhiều ngày đêm nhưng ít hơn 12 tháng. Qua khái niệm có thé thay hoạt động du lịch bao gồm ba nội dung sau: * Vé mặt không gian: Du lịch bao gồm các chuyến đi của con người ra khỏi môi trường thường xuyên của mình.
Môi trường thường xuyên được hiểu là phạm vi không gian của nơi cư trú hoặc những chuyến đi có tính chất thường xuyên như: đi làm việc ở cơ quan, đi chợ hàng ngày,. * Vé mặt thời gian: Được tính vào hoạt động du lịch khi về mặt thời gian không quá dài vượt ra phạm vi được qui định. Thời gian này ít nhất là một ngày đêm, nhiều nhất không quá 6 tháng nếu đi du lịch trong nước và không quá một năm nếu đi du lịch nước ngoài. Tuy nhiên việc quy định thời gian là khó khăn, mỗi nước có một cách quy định khác nhau.
* Vê mục đích chuyển đi: Di du lịch “không nhằm mục đích kiếm tiền tại địa phương đến thăm”, có nghĩa tại đó họ tiêu dùng sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu ngắm cảnh, nghỉ ngơi, giải trí,. thì được gọi là khách du lịch. Những trường hợp di cư để làm việc tạm thoitai địa phương đến sẽ không được coi là di du lịch và khi đó, mục đích của họ là để kiếm tiền. Từ khái niệm ta thấy, khách du lịch bao gồm cả khách tham quan trong ngày không ngủ qua đêm miễn là mục đích của chuyến đi không phải để kiếm tiên ở nơi đên và khách nghỉ qua đêm với các mục đích khác.
SV: Nguyễn Thị Thu Hà Như vậy, những chuyến đi không được thống kê là khách du lịch bao gồm: * Những người di lại trong môi trường thường xuyên cua minh. - Người đi làm việc hàng ngày bằng vé ôtô tháng. - Người lao động sống ở các vùng biên giới hàng ngày phải qua biên giới làm việc. - Người đi lại nơi cư trú thường xuyên của mình.
Chăng hạn những người ở một nơi nhưng lại làm việc một nơi khác, phải đi lại hàng ngày, hàng tháng,. * Những người di cư với mục đích thay đổi nơi cư trú: di cư trong thời gian dài, chuyển đến nơi ở khác. * Những người không có nơi cư trú cố định: những người dân du mục, những người dân lang thang không có nơi cư trú, những người ti nạn, sơ tan. * Những người đi với mục đích kiếm tiền: di cư trong thời gian ngăn, những người đi làm theo thời vụ, các giảng viên đi giảng bài ở nơi khác, hoạ sĩ đi thực tế đề vẽ.
* Những người đi lại khác: những hành khách quá cảnh, lực lượng vũ trang đi hành quân, đại diện các cơ quan tư vấn đi làm nhiệm vụ. Nhung trong thực tế, các đối tượng nêu trên nêu có tiêu dùng sản phẩm của ngành du lịch thì vẫn được tính vào khách du lịch. Vì vậy, quy định nói trên vẫn mang tính chất tương đối. Nền kinh tế càng phát triển, đời sống dân cư càng được nâng cao thì nhu cầu của khách du lịch ngày càng da dạng và phát triển không ngừng.
Du lich của khách có rất nhiều mục đích khác nhau, vì vậy việc phân loại khách du lịch là hết sức quan trọng và cần thiết. Hoạt động du lịch có thể được phân chia thành các nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích, quan điểm khác nhau. Một số cách tiếp cận phố biến bao gồm: * Căn cứ theo môi trường tài nguyên: Gồm du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên. SV: Nguyễn Thị Thu Hà Du lịch văn hoá là du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn.
Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích lịch sử, các công trình đương đại lễ hội, phong tục tập quán, viện bảo tang,. Du lịch thiên nhiên là loại hình du lịch đưa du khách về những nơi có điều kiện, môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn. nhằm thoả mãn nhu cầu đặc trưng của họ. * Căn cứ vào mục đích chuyến đi, gồm hai loại: du lịch thuần tuý và du lịch kết hợp.
Du lịch thuần tuý là loại hình hoạt động du lịch nhăm nghỉ ngơi, giải trí, tham quan nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Du lịch thuần tuý bao gồm: Du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thé thao, du lịch lễ hội Du lịch kết hợp là loại hình hoạt động du lịch thuần tuý kết hợp với các mục đích khác như học tập, công tác, nghỉ ngơi, tôn giáo, nghiên cứu. bao gồm: du lịch kết hợp mục đích tôn giáo, du lịch kết hợp học tập, nghiên cứu, du lịch kết hợp, du lịch kết hợp hội nghị, du lịch kết hợp thé thao, du lịch kết hợp chữa bệnh, du lịch kết hợp thăm thân, du lịch kết hợp với mục đích kinh doanh. * Căn cứ vào lãnh thổ hoạt động gồm ba loại: du lịch quốc tế, du lịch nội địa và du lịch quốc gia.
Du lịch quốc tế gồm du lịch quốc tế đến và du lịch ra nước ngoài.