Chương 1: Các dịch vụ trên mạng băng rộng. Chương này sẽ đi sâu tìm hiểu khái niệm, đặc điểm các dịch vụ nội dung, so sánh nó với các dịch vụ viễn thông cơ bản khác đồng thời đưa ra yêu cầu cấp bách và cần thiết phải có mạng phân phối nội dung CDN. Chương 2: Cấu trúc mạng CDN. Chương này đi sâu nghiên cứu các thành phần cấu thành nên mạng, mạng hoạt động định tuyến như thế nào, quản lý mạng ra sao…để làm tiền đề nghiên cứu khả năng thiết lập mạng CDN cho VTC.
Chương 3: Nghiên cứu khả năng thiết lập mạng CDN cho VTC. Sau khi đã tìm hiểu cấu trúc mạng, giá trị lợi ích mà CDN mạng lại thì yêu cầu là nghiên cứu khả năng thiết lập mạng CDN cho VTC, các thiết bị yêu cầu, mô hình triển khai… Qua thời gian học tập nghiên cứu được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo trường Đại học Công Nghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Bản luận văn thạc sĩ đến này đã được hoàn thành. Do khả năng và thời gian có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu xót.
Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè. Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Cảnh Tuấn - Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, cung cấp nhiều tài liệu bổ ích giúp tôi củng cố thêm kiến thức và đi tới hoàn thành luận văn này. - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CÁC DỊCH VỤ TRÊN MẠNG BĂNG RỘNG Hiện nay, thị trường Internet băng rộng ADSL đã phát triển vượt bậc với nhiều nhà cung cấp cùng tham gia ngoài VNPT như FPT, Viettel, Saigon Postel, Netnam, EVN Telecom… Theo báo cáo từ Tổng cục Thống kê, trong 5 tháng đầu năm 2010, số thuê bao Internet băng rộng cả nước tính đến cuối tháng 5/2010 ước tính đạt 3,5 triệu thuê bao, tăng 41,2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó VNPT đạt 2,5 triệu thuê bao, tăng 56,8%. Số người sử dụng Internet tính đến cuối tháng 5/2010 là 24,6 triệu người, tăng 14,6% so với cùng thời điểm năm ngoái.
[4] Internet từ chỗ là thứ xa xỉ phẩm, chỉ là băng hẹp, giá cao, thì nay đã là Internet băng thông rộng với nhiều dịch vụ gia tăng, với khoảng 30% dân số sử dụng. Tuy nhiên dịch vụ dữ liệu trên nền truyền tải tốc độ cao này còn ít cho thấy Việt Nam còn phải đa dạng hóa các dịch vụ nội dung để tăng doanh thu từ mảng này thông qua việc hợp tác với các nhà cung cấp nội dung. 3G ra mắt là dấu ấn mới nhất của ngành Viễn thông Việt Nam trong 10 năm qua. 3G được kỳ vọng tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực truyền thông không dây với việc cung cấp dịch vụ thoại và truy nhập dữ liệu tốc độ cao trên di động, đồng thời thúc đẩy sự hội tụ của các thiết bị liên lạc di động với các thiết bị điện tử tiêu dùng khác.
3G tạo điều kiện cho dịch vụ nội dung phát triển nhưng ngược lại dịch vụ nội dung chính là yếu tố quyết định sự tồn tại, phát triển của mạng 3G. Dịch vụ nội dung có phong phú thì mới thu hút được người sử dụng dịch vụ 3G. Như vậy, thị trường viễn thông Việt Nam không còn là mảnh đất màu mỡ và dễ khai thác như những năm trước, các nhà cung cấp dịch vụ đang phải tìm cách tăng trưởng trong môi trường kinh doanh ngày một khó khăn bởi sự bão hòa. Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông cần sáng tạo những mô hình kinh doanh mới trên cơ sở hạ tầng hiện hữu, đặc biệt là các dịch vụ giá trị gia tăng.
Chương này sẽ đi sâu tìm hiểu khái niệm, đặc điểm các dịch vụ nội dung, so sánh nó với các dịch vụ viễn thông cơ bản khác đồng thời đưa ra yêu cầu cấp bách và cần thiết phải có mạng phân phối nội dung CDN. DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Dịch vụ viễn thông băng hẹp và băng rộng ITU đã phân loại dịch vụ viễn thông theo băng tần sử dụng. Cụ thể như sau: Dịch vụ viễn thông băng hẹp : Trong dịch vụ viễn thông băng hẹp có thể chia ra thành các nhóm như sau: - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dịch vụ tải tin (Bearer Service): Đây là một loại dịch vụ viễn thông cung cấp khả năng truyền dẫn tín hiệu giữa các giao diện mạng khách hàng, không tính đến chức năng của thiết bị đầu cuối và không sử dụng thông tin, nghĩa là chỉ cung cấp cho khách hàng khả năng truyền tải tin giữa 2 điểm S/T của mạng theo mô hình chuẩn.
Dịch vụ viễn thông (Teleservice): Dịch vụ này cung cấp khả năng viễn thông hoàn chỉnh bao gồm cả chức năng của thiết bị đầu cuối. Dịch vụ viễn thông băng rộng: Theo ITU thì dịch vụ này có thể chia thành dịch vụ tương tác và dịch vụ phân bố. Dịch vụ tương tác: Dịch vụ này thực hiện sự trao đổi thông tin băng rộng 2 chiều giữa thuê bao và nhà cung cấp dịch vụ. Dịch vụ phân bố: Dịch vụ này thực hiện thông tin băng rộng từ nhà cung cấp dịch vụ đến thuê bao.
Dịch vụ thông tin và dịch vụ nội dung Đứng từ góc độ mục tiêu sử dụng dịch vụ của khách hàng thì có thể chia dịch vụ viễn thông thành 2 loại: Dịch vụ thông tin: Khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông là nhằm trao đổi thông tin qua lại 2 chiều với đối tác, bàn bạc để biết được ý kiến của nhau. Điều này khác hẳn với dịch vụ nội dung. Dịch vụ cung cấp nội dung (dịch vụ nội dung): Khác với dịch vụ thông tin, khách hàng sử dụng dịch vụ này là nhằm nhận được nội dung đã được nhà cung cấp chuẩn bị sẵn như video, tài liệu, số liệu… Có một số dịch vụ nội dung thường được nhắc đến như: dịch vụ truyền hình theo yêu cầu (VoD - Video On Demand), dịch vụ E-Learning, dịch vụ IPTV … 1. Thực tiễn dịch vụ viễn thông tại Việt Nam Theo nghị định 160/NĐ-CP này 03/09/2004 “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông” thì dịch vụ viễn thông được phân loại như sau: Dịch vụ viễn thông cơ bản: là dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin của người sử dụng dưới dạng ký hiệu, tín hiệu, dữ liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình nội dung thông tin được gửi và nhận qua mạng.
Dịch vụ cơ bản bao gồm: - Dịch vụ viễn thông cố định: (nội hạt, đường dài trong nước, quốc tế); Dịch vụ điện thoại (thoại, fax, truyền số liệu trong băng thoại ); Dịch vụ truyền số liệu; Dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình; Dịch vụ thuê kênh riêng; Dịch vụ telex; Dịch vụ điện báo. - Dịch vụ viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc): Dịch vụ thông tin di động mặt đất; Dịch vụ điện thoại trung kế vô tuyến; Dịch vụ nhắn tin; - Dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh; - Dịch vụ viễn thông di động vệ tinh; - Dịch vụ vô tuyến điện hàng hải; - Các dịch vụ cơ bản khác do Bộ Bưu chính, Viễn thông quy định. Dịch vụ cộng thêm: là dịch vụ được cung cấp thêm đồng thời cùng với dịch vụ cơ bản, làm phong phú và hoàn thiện thêm dịch vụ cơ bản, trên cơ sở các tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc khả năng phục vụ của doanh nghiệp viễn thông. Doanh nghiệp viễn thông quy định và công bố các dịch vụ cộng thêm do mình cung cấp.
Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị sử dụng thông tin của con người sử dụng bằng cách hoàn thiện loại hình hoặc nội dung thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet. Dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm: - Dịch vụ thư điện tử (email). - Dịch vụ thư thoại(voice mail). - Dịch vụ truy cập dữ liệu và thông tin trên mạng.
- Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử. - Dịch vụ fax gia tăng giá trị bao gồm lưu trữ và gửi, lưu trữ và truy cập. - Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức. - Dịch vụ xử lý dữ liệu và thông tin trên mạng.
- 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các dịch vụ giá trị gia tăng khác do Bộ Bưu chính, Viễn thông quy định. Dịch vụ Internet bao gồm : - Dịch vụ kết nối Internet - Dịch vụ truy cập Internet - Dịch vụ ứng dụng Internet trong viễn thông. Có thể thấy khái niệm dịch vụ nội dung nói chung chưa được đề cập đến trong hệ thống văn bản phân loại dịch vụ viễn thông của Việt Nam. Do đó, chúng ta cần làm rõ khái niệm, đặc điểm của dịch vụ nội dung để đi đến nghiên cứu và thiết lập mạng CDN.
DỊCH VỤ NỘI DUNG TRÊN MẠNG BĂNG RỘNG 1. Khái niệm dịch vụ nội dung Có thể thấy, trong văn bản phân loại dịch vụ viễn thông của Việt Nam chưa đề cập đến khái niệm dịch vụ nội dung. Theo Wikipdia thì nội dung được hiểu là bất kỳ dạng truyền thông (media), dữ liệu (data) nào được xem hoặc sử dụng trên thiết bị đầu cuối như nhạc chuông, hình ảnh, trò chơi điện tử, phim, … 1. Thành phần tham gia vào quá trình cung cấp nội dung Việc cung cấp dịch vụ nội dung nói chung và dịch vụ trên điện thoại di động có sự tham gia của nhiều đối tác khác nhau.
Việc phân loại các đối tác được căn cứ vào vai trò chức năng mà họ thực hiện trong chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị theo chức năng đó được mô tả trong bảng 1.1 sau : [10,11,12] Content Design/ Publishing/ Provisioning/ Marketing/ Ownership Development Aggregation Hosting Delivery Bảng 1.1: Các vai trò chức năng trong chuỗi giá trị cung cấp dịch vụ nội dung Chức năng 1: Sở hữu nội dung (Content Ownership) Người thực hiện chức năng là Content Owners/ Content Originatiors (Người sở hữu nội dung ): Là cá nhân hoặc tổ chức có quyền sở hữu nội dung số. Nội dung số bao gồm nhiều dạng như nhạc, trò chơi điện tử , hình nền, các chương trình tivi… Do đó, người sở hữu nội dung có thể là nhà soạn nhạc, nhà văn, nhà xuất bản, nhà sản xuất âm nhạc, các chuyên gia hoặc các nhà nghiên cứu. Người sở hữu nội dung có thể chính là người tạo ra nội dung hoặc không.
- 15 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.