CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Tín chỉ các-bon “Tín chỉ các-bon là chứng nhận có thể giao dịch thương mại và thể hiện quyền phát thải một tấn khí carbon dioxide (CO2) hoặc một tấn khí carbon dioxide (CO2) tương đương” (Luật bảo vệ môi trường, 2020).
“Tín chỉ các-bon là giấy phép cho phép mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh phát thải khí CO2. Mỗi tín chỉ các-bon được xác nhận là 1 tấn CO2, hoặc 1 tấn khí nhà kính khác quy đổi ra 1 tấn CO2. Gọi chung là 1 tấn CO2 (viết tắt là tCO2e)” (Minh Hiền, 2023a). Nếu tín chỉ các-bon được ban hành bởi các tiêu chuẩn như Tiêu chuẩn vàng hay Tiêu chuẩn các-bon được thẩm tra thì chúng sẽ là những tín chỉ các-bon độc lập và được giao dịch trên các thị trường bao gồm cả trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều loại hình tín chỉ các-bon được ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau như theo các loại hình dự án hợp tác hay chuyển giao. Khi đó, các tín chỉ các-bon này sẽ phụ thuộc vào tính pháp lý và điều kiện ràng buộc của những cam kết đó (Phạm và cộng sự, 2021b). Thông thường những loại hình này sẽ có nhiều điều kiện ràng buộc hơn và bao hàm tính đảm bảo đáp ứng các tiêu chí liên quan đến môi trường và xã hội rõ ràng và minh bạch hơn. “Tín chỉ các-bon rừng được xác định từ lượng CO2 hoặc CO2e được tạo ra từ hoạt động REDD+, chủ rừng có thể quy đổi diện tích rừng đang quản lý, bảo vệ ra lượng hấp thụ khí CO2, ra tín chỉ các-bon và có thể bán tín chỉ này tại thị trường các-bon qua cơ chế giảm phát thải khí nhà kính thông qua REDD+, tín chỉ các-bon cũng được xem là mặt hàng mới được tạo ra khi thực hiện các hoạt động cắt giảm phát thải hoặc hấp thụ khí nhà kính” (Minh Hiền, 2023b).
Tín chỉ các-bon giá trị cao “Tín chỉ các-bon giá trị cao là các tín chỉ các-bon được thẩm định chính xác, có tính bổ sung và lâu dài, và được thực hiện nhằm đạt được cả mục đích giảm phát 6 thải, bảo tồn và nâng cao đa dạng sinh học, tạo ra các tác động xã hội tích cực cho cộng đồng dân cư và người dân tộc thiểu số” (Phạm và cộng sự, 2022a). Có thể nói đây là một khái niệm rất tổng quát và bao trùm toàn bộ giá trị lợi ích của tín chỉ các-bon giá trị cao mang lại cho xã hội, kinh tế và toàn bộ hệ sinh thái. Đây là một xu thế mới mà thế giới đang hướng tới và cũng là tiêu chuẩn của người mua hiện nay đang hướng tới. Do đó, tín chỉ các-bon rừng giá trị cao có thể được hiểu là các tín chỉ các-bon được tạo ra từ các dự án liên quan đến rừng đồng thời các tín chỉ này phải đảm bảo tất cả các yêu cầu khắt khe của tín chỉ các-bon giá tại cao (Phạm và cộng sự, 2022a).
Bên cạnh đó, nghiên cứu của WWF-US và cộng sự (2020) có đề cập đến tín chỉ các-bon giá trị cao nhưng không đưa ra một khái niệm cụ thể mà chỉ đưa ra sáu tiêu chí cụ thể và nếu tín chỉ các-bon đáp ứng các tiêu chí này được xem là tín chỉ các- bon giá trị cao. Các tiêu chí đó bao gồm: (1) Xác định chính xác tác động phát thải khí nhà kính của hoạt động giảm nhẹ; (2) Tránh tính trùng lặp lượng giảm hoặc loại bỏ phát thải; (3) Giải quyết tình trạng không thường xuyên; (4) Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi hướng tới lượng phát thải ròng bằng không; (5) Sự sắp xếp thể chế và quy trình chặt chẽ của chương trình tín dụng; (6) Tăng cường các tác động tích cực và ngăn ngừa tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Thị trường các-bon và cách phân loại tín chỉ các-bon Khoản 1, Điều 139 của Luật bảo vệ môi trường năm 2020 quy định rõ “thị trường các-bon trong nước gồm các hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải KNK và tín chỉ các-bon thu được từ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. 7 Theo Nguyễn và cộng sự (2018): “Thị trường các-bon là một loại hình thị trường đặc thù, với hàng hóa được mua/bán trong thị trường là các đơn vị/chứng chỉ giảm/hấp thụ phát thải KNK theo các cơ chế khác nhau”.
Tín chỉ các-bon được ban hành thông qua nhiều loại tiêu chuẩn khác nhau như Cơ chế phát triển sạch (CDM – Clean Development Mechanism, thông qua nghị định thư Kyoto), Đồng thực hiện (JI – Joint implementation, thông qua nghị định Thư Kyoto), Tiêu chuẩn các-bon được thẩm tra (VCS – Verified Carbon Standard, được thành lập bởi tổ chức phi lợi nhuận (VERRA) hoạt động theo luật của nước Mỹ) hay Tiêu chuẩn vàng (GS – Gold Standard, được thành lập bởi Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF) cùng một số tổ chức phi chính phủ quốc tế khác) và nhiều tiêu chuẩn khác. Nhưng gần đây nhất là tiêu chuẩn Hội đồng các-bon toàn cầu (GCC – Global Carbon Council). Nhìn chung, thị trường các-bon hiện nay được phân làm hai loại chính là “thị trường các-bon tự nguyện (Voluntary market)” và “thị trường các-bon bắt buộc (mandatory market)” (Hình 1-1). Thị trường bắt buộc là nơi diễn ra việc mua bán các tín chỉ các-bon dựa trên cam kết của các quốc gia trong Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) để đạt mục tiêu giảm phát thải KNK, vì thế thường được áp dụng trong phạm vi quốc gia.
Do tính chất là bắt buộc nên giá giao dịch thường cao. Thị trường tín chỉ các-bon được hình thành để đáp ứng nhu cầu tuân thủ quy định của luật pháp thông qua hệ thống giao dịch phát thải châu Âu (EU-ETS) và các hệ thống giao dịch phát thải bắt buộc khác. Hiện nay, Nghị định thư Kyoto, Hiệp định Marrakech 2001, Cơ chế thương mại phát thải, CORSIA (Chương trình bù đắp và giảm thiểu các-bon cho hàng không quốc tế) là những cơ chế phổ biến cho việc ban hành các tín chỉ các-bon để giao dịch trên thị trường này. Nhưng lượng tín chỉ các-bon trên thị trường này có thể được bán lại trên thị trường tự nguyện và được tính vào cam kết giảm phát thải của quốc gia.
Các loại thị trường các-bon và các tiêu chuẩn ban hành tín chỉ các- bon phổ biến (Nguồn: Tổng hợp bởi tác giả, 2023) Thị trường tự nguyện hoạt động dựa trên hợp tác giữa các tổ chức, các doanh nghiệp, các quỹ hoặc các quốc gia dưới hình thức song phương hoặc đa phương. Các tín chỉ các-bon này thường được yêu cầu ban hành thông qua các tiêu chuẩn phổ biến hiện nay như VCS, GS, JCM (Joint Crediting Mechanism - Cơ chế tín chỉ chung), GCC và nhiều tiêu chuẩn khác tùy thuộc vào yêu cầu của người mua. Do là cơ chế tự nguyện nên mức giá các-bon trong thị trường này thường thấp hơn so với giá giao dịch tại thị trường các-bon bắt buộc. Ngoài ra, các tín chỉ ban hành theo những cơ chế trên thị trường này sẽ không được tính vào cam kết hay thỏa thuận giảm phát thải của quốc gia, trừ khi có quy định mới.
Dưới đây là sơ đồ mô tả tóm tắt quá trình thực hiện cấp/phát tín dụng các-bon và giao dịch các-bon trên thị trường mua bán tín chỉ các-bon (Hình 1-2): 9 Hình 1-2. Mô phỏng quá trình thực hiện cấp và giao dịch tín chỉ các-bon (Nguồn: Malwina và cộng sự, 2021) Sơ đồ Hình 1-2 cho thấy có bốn đơn vị chính tham gia vào thị trường mua bán các tín chỉ các-bon (Carbon Knowledge Hub, 2023), bao gồm: Đơn vị tiêu chuẩn, đơn vị phát triển, đơn vị môi giới và người mua cuối cùng. Trong đó, mũi tên nét đứt là chỉ hoạt động gián tiếp phải thông qua bên thứ ba và thường là bên thứ ba sẽ chi trả phí phát triển dự án ban đầu khi yêu cầu đăng ký dự án và ban hành các tín chỉ các-bon. Đơn vị tiêu chuẩn là các tổ chức được thành lập dựa trên luật pháp nơi đăng ký thông qua sự chấp thuận cũng như phê duyệt từ tổ chức thế giới liên quan.
Ví dụ như CDM được phê duyệt bởi Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu thông qua Thỏa thuận Paris về BĐKH; VCS thông qua VERRA; GS thông qua WWF; hay JCM thông qua Thỏa thuận hợp tác giữa chính phủ Nhật Bản và chính phủ Việt Nam. Các ban tham gia có thể đề trình dự án lên các tiêu chuẩn này để yêu cầu đăng ký dự án thông qua các tiêu chuẩn đó. Sau khi các dự án đó được xem xét thông qua các quy trình nghiêm ngặt của các tiêu chuẩn này cùng với sự thẩm định từ bên thứ ba sẽ được phê duyệt hay từ chối. Khi các dự án được phê duyệt thành công tức là chúng trở thành các dự án đạt các tiêu chuẩn đó và sẽ được yêu cầu ban hành tín chỉ các-bon theo các loại hình đó.
Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý là các một dự án có thể đăng ký theo một số tiêu chuẩn cùng một lúc nhưng khi yêu cầu ban 10 hành các tín chỉ các-bon, chỉ được phép yêu cầu ban hành theo một loại tiêu chuẩn duy nhất cho một giai đoạn tín dụng nhất định. Có nghĩa là khi dự án yêu cầu ban hành tín chỉ các-bon cho giai đoạn A thông qua tiêu chuẩn CDM rồi sẽ không được phép yêu cầu ban hành theo tín chỉ các-bon của giai đoạn này theo bất kỳ tiêu chuẩn nào khác và ngược lại, mà chúng chỉ có thể được yêu cầu ban hành tín chỉ các-bon cho một giai đoạn khác theo tiêu chuẩn khác (WWF-US và cộng sự, 2020). Đơn vị phát triển là bên bán các lượng tín chỉ các-bon tới người mua. Đơn vị này thường sẽ sở hữu các nhà máy phát điện từ các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, năng lượng thủy năng; các nhà máy sản xuất tinh bột sắn hay ethanol có sử dụng các công nghệ xử lý nước thải không gây ô nhiễm môi trường; hay các nhà máy sử dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng; đặc biệt là các chủ rừng, đơn vị quản lý rừng góp phần làm tăng hàm lượng hấp thụ các-bon như chống thoái hóa rừng, tái trồng rừng (Carbon credit, 2023a; Katherine và cộng sự, 2022; Carbon Knowledge Hub, 2023).
Đơn vị môi giới thường là những tổ chức, cá nhân với vai trò trung gian liên kết giữa đơn vị phát triển và người mua cuối cùng.