Thi Học Đại Việt Thế Kỷ XV-XVIII Qua Một Số Bộ Thi Tuyển Tiêu Biểu

Nghiên cứu thi học Đại Việt TK XV-XVIII qua các bộ thi tuyển tiêu biểu. Phân tích sâu sắc giá trị văn học, tư tưởng, và đặc trưng thi ca thời kỳ này.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài

2024

167
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Thi Học Đại Việt Thế Kỷ XV XVIII

Thơ ca có vai trò quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam. Nó không chỉ là phương tiện biểu lộ cảm xúc mà còn là biểu tượng của văn vận, văn hiến triều đại. Thơ còn được đưa vào trường thi để học làm chính trị, ngoại giao. Từ thơ phát triển thành thi học. Khái niệm 'thi học' bao gồm cách học thơ, phép làm thơ, cách thẩm định, quan niệm về thơ, đặc trưng về phong cách. Nghiên cứu thi học Đại Việt từ thế kỷ XV đến XVIII, giai đoạn khởi đầu và phát triển mạnh mẽ, là một hướng đi quan trọng. Đề tài này lựa chọn nghiên cứu thông qua bốn bộ thi tuyển: Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập (thế kỷ XV) và Toàn Việt thi lục (thế kỷ XVIII). Nghiên cứu nhằm xác lập những vấn đề cơ bản của thi học quốc gia Đại Việt về tư tưởng thi học, diện mạo thơ ca, đặc trưng thi học qua phương thức tổ chức và thực tiễn tuyển chọn.

1.1. Định Nghĩa Thi Học Thi Tập Thi Tuyển Trong Văn Hóa Việt

Nghiên cứu khảo sát, phân tích các khái niệm “thi học”, “thi tập”, “thi tuyển” trong các từ điển chuyên môn và một số công trình nghiên cứu của Trung Quốc. Đồng thời khảo sát, phân tích các khái niệm này từ thực tế sử dụng trong các văn bản thi tuyển chữ Hán Việt Nam và trong cách sử dụng của các nhà ngữ văn học Việt Nam thời trung đại. Cách nói về thi học khá thống nhất trong phát biểu của nhiều nhà ngữ văn truyền thống. Thi học bao gồm cách học làm thơ, phép làm thơ, cách lập ý, tìm hứng, dùng chữ, luyện câu, nghệ thuật phúng vịnh, tả cảnh ngụ tình, phản ánh sự thịnh suy của thế đạo. Nó còn liên quan đến cách thẩm thơ, quan niệm về thơ với những đặc trưng về thể tài, phong khí, phong cách. Quan điểm về thi học cũng là quan điểm về “thơ”.

1.2. Tình Hình Văn Bản Của Các Tuyển Tập Thi Tiêu Biểu

Nghiên cứu thống kê, khảo sát về tình hình văn bản hiện tồn của bốn bộ thi tuyển tại các thư viện lớn lưu trữ thư tịch Hán Nôm trên địa bàn Hà Nội, đồng thời kết hợp với các nguồn sưu tầm khác, trên cơ sở đó, xác định, mô tả văn bản được lựa chọn nghiên cứu. Về tình hình văn bản của Việt âm thi tập, hiện còn khảo được 5 văn bản. Về tình hình văn bản Tinh tuyển chư gia luật thi, hiện tại còn khảo được hai văn bản đều lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trich diễm thi tập có lẽ đã nhiều phen thất lạc. Về tình hình văn bản của Toàn Việt thi lục, hiện còn có thể khảo được 13 văn bản.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Thi Học Đại Việt Thế Kỷ XV XVIII

Việc nghiên cứu thi học Đại Việt thế kỷ XV-XVIII đối mặt với nhiều thách thức. Các văn bản cổ thường không đầy đủ, gây khó khăn trong việc khôi phục diện mạo ban đầu. Sự khác biệt trong quan niệm về thi học giữa các thời kỳ và các nhà nghiên cứu cũng đòi hỏi sự phân tích cẩn trọng. Bên cạnh đó, việc tiếp cận và giải mã các tác phẩm thơ chữ Hán, thơ Nôm đòi hỏi kiến thức sâu rộng về Hán Nôm và văn hóa truyền thống. Theo TS. Phạm Vân Dung, Chủ nhiệm đề tài, cần có phương pháp tiếp cận liên ngành để giải quyết các vấn đề này, kết hợp văn bản học, cấu trúc luận, nghiên cứu trường hợp và các chuyên ngành khác như sử học, ngôn ngữ học, văn tự học, văn hóa học.

2.1. Khó khăn trong xác định tác giả và thi phẩm

Việc thống kê số lượng tác giả và thi phẩm trong các bộ thi tuyển đòi hỏi sự tỉ mỉ và chính xác cao. Nhiều tác phẩm bị thất lạc hoặc chỉ còn lại một phần, gây khó khăn trong việc xác định tác giả và nội dung. Bên cạnh đó, việc xác định thời điểm sáng tác của các tác phẩm cũng là một thách thức lớn, đặc biệt đối với những tác phẩm không có thông tin rõ ràng về tác giả và thời gian sáng tác. Theo Trần Văn Giáp, việc xác định văn bản gốc và các dị bản cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu thi học.

2.2. Thách thức trong diễn giải tư tưởng từ Hán văn

Để hiểu rõ tư tưởng xây dựng nền thi học quốc gia Đại Việt, việc khai thác thông tin từ các bài đề tựa, biểu, lệ ngôn là rất quan trọng. Tuy nhiên, việc diễn giải các văn bản Hán Nôm này đòi hỏi kiến thức sâu rộng về Hán văn và văn hóa truyền thống. Ngôn ngữ trong các văn bản này thường mang tính biểu tượng cao, đòi hỏi người nghiên cứu phải có khả năng giải mã và hiểu được ý nghĩa sâu xa của từng câu chữ. Hơn nữa, việc xác định quan điểm và tư tưởng của tác giả cũng là một thách thức, đặc biệt khi các tác giả thường sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ và hàm ý.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Thi Học Đại Việt Thế Kỷ XV XVIII

Để nghiên cứu thi học Đại Việt, các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp nghiên cứu văn bản học là phương pháp quan trọng để xác định văn bản nghiên cứu, thời điểm ra đời, lực lượng biên soạn, quá trình biên soạn. Phương pháp cấu trúc luận được sử dụng để phân tích các thành tố trong hệ thống cấu trúc, tìm các giá trị theo quan hệ. Phương pháp nghiên cứu trường hợp nhằm khảo sát, nghiên cứu những văn bản thi tuyển đại diện. Phương pháp tiếp cận liên ngành vận dụng phối hợp những phương pháp thuộc các chuyên ngành khác. Nghiên cứu còn sử dụng các thao tác khoa học như phân tích, quy nạp, đối chiếu, so sánh, thống kê.

3.1. Cách Tiếp Cận Liên Ngành Trong Nghiên Cứu Văn Học

Việc sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành cho phép các nhà nghiên cứu nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Việc kết hợp kiến thức từ văn học, sử học, ngôn ngữ học, văn tự học và văn hóa học giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của các tác phẩm thơ. Phương pháp này cũng giúp phát hiện ra những mối liên hệ giữa các tác phẩm thơ và các lĩnh vực khác của đời sống văn hóa. Ví dụ, việc nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo đến thi ca giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng và giá trị của các tác phẩm.

3.2. Vai trò của phân tích và so sánh trong nghiên cứu văn bản

Các thao tác khoa học như phân tích, quy nạp, đối chiếu và so sánh đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Phân tích giúp chia nhỏ các vấn đề phức tạp thành các phần nhỏ hơn, dễ hiểu hơn. Quy nạp giúp tổng hợp các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để đưa ra những kết luận chung. Đối chiếu và so sánh giúp làm rõ sự khác biệt và tương đồng giữa các tác phẩm, tác giả và thời kỳ khác nhau. Thống kê giúp định lượng các thông tin và đưa ra những nhận xét khách quan.

IV. Phân Tích Thơ Chữ Hán Đại Việt Qua Các Tuyển Tập Tiêu Biểu

Nghiên cứu thống kê tên, số lượng tác giả, thi phẩm từ bốn bộ thi tuyển. Đối chiếu, phân tích giữa bốn bộ để tổng hợp số lượng chung về tác gia, thi phẩm, làm rõ sự kế thừa, tiếp nối, bổ sung, việc lựa chọn lại hay loại bỏ các tác giả, thi phẩm. Qua đó rút ra đặc điểm chung, đặc điểm riêng của mỗi thế kỷ và tái hiện diện mạo thơ chữ Hán Đại Việt từ khởi nguồn đến thế kỷ XVII. Các nhà biên soạn chia thơ chữ Hán Đại Việt thành các giai đoạn: Đinh - Lý; Trần - Hồ và Quốc triều (triều Lê). Tuy nhiên, ba bộ thi tuyển thế kỷ XV chỉ sưu tập thơ các triều Trần, Hồ, Lê sơ. Đến thế kỷ XVIII, Toàn Việt thi lục mới bổ sung thơ triều Lý.

4.1. Sự Kế Thừa và Bổ Sung Giữa Các Bộ Thi Tuyển

Ba bộ thi tuyển của thế kỷ XV vừa kế thừa, tiếp nối vừa bổ sung cho nhau, đã sưu tầm thơ chữ Hán Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV là 55 đơn vị tác giả và 590 đơn vị thi phẩm. So với ba bộ thi tuyển của thế kỷ XV, Toàn Việt thi lục đã bổ sung mới 14 tác giả và 47 bài thơ, bớt đi 02 tác giả cùng 31 bài thơ thuộc các triều Lý - Trần - Hồ. Bốn bộ thi tuyển đã thu nhận cho giai đoạn đầu của thơ ca chữ Hán Việt Nam được 69 đơn vị tác giả và 637 đơn vị thi phẩm.

4.2. Diện Mạo Thơ Ca Thế Kỷ XV XVIII Qua Toàn Việt Thi Lục

Tới giai đoạn từ thế kỷ XV tới thế kỷ XVIII, Toàn Việt thi lục đã tuyển chọn tổng số là 109 tác giả cùng 1846 bài thơ. Trong đó, số tác giả kèm số thi phẩm chắc chắn được tuyển mới từ Toàn Việt thi lục là 50 tác giả với 1110 bài thơ. Qua đối chiếu nhan đề và nội dung thơ cho thấy, số thơ chắc chắn được Toàn Việt thi lục chọn lại từ Tinh tuyển chư gia luật thi là 216/229 bài; từ Trích diễm thi tập là 139/143 bài. Số thơ tuyển mới của 59 tác giả còn lại trong Toàn Việt thi lục so với ba bộ thi tuyển thế kỷ XV sẽ là 295 bài.

V. Tư Tưởng Xây Dựng Thi Học Đại Việt Thế Kỷ XV XVIII

Để tìm hiểu tư tưởng xây dựng nền thi học quốc gia Đại Việt, điều tiên quyết là khai thác thông tin từ những bài đề tựa, biểu, lệ ngôn chứa đựng những tư tưởng, quan niệm về việc xây dựng một nền thi học Đại Việt được viết ra bởi chính những chủ thể biên tập. Các bộ Việt âm thi tậpToàn Việt thi lục được biên soạn mang tầm cỡ quốc thi, một được triều đình “sắc tứ san hành”, một được “phụng chỉ biên định”. Tư tưởng đó được thể hiện qua sự nhận thức về thi học chữ Hán nói chung, thi học Đại Việt nói riêng, là những cơ sở, tiêu chí cho việc tuyển chọn, biên soạn thơ ca, nhằm bảo tồn và làm đầy thêm truyền thống thi ca nước nhà.

5.1. Chủ Động Tiếp Nhận Thi Học Trung Hoa

Các nhà biên tập thi tuyển thế kỷ XV-XVIII chủ động tiếp nhận thi học Trung Hoa làm điểm nhìn tham chiếu. Tuy nhiên, họ không sao chép một cách máy móc mà có sự chọn lọc và điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm văn hóa và lịch sử của Việt Nam. Việc tiếp thu thi học Trung Hoa giúp các nhà văn học Việt Nam có thêm kiến thức và kinh nghiệm để xây dựng một nền thi học độc đáo và phong phú.

5.2. Khẳng Định Truyền Thống Văn Hiến Đại Việt

Các nhà biên tập thi tuyển khẳng định và đề cao truyền thống văn hiến, lấy đó làm điểm tựa nội lực cho thi học Đại Việt. Họ coi trọng các tác phẩm thơ của các thế hệ trước và coi đó là nguồn cảm hứng và là nền tảng để phát triển thi ca. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống giúp thi học Đại Việt có bản sắc riêng và không bị hòa tan vào thi học của các nước khác.

5.3. Định Hướng Phát Triển Thi Học Đại Việt

Thông qua các bài tựa, biểu, lệ ngôn, các nhà biên tập thi tuyển đề ra những định hướng cho thi học Đại Việt. Họ khuyến khích các nhà thơ sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và phản ánh được những vấn đề của xã hội. Họ cũng nhấn mạnh vai trò của thi ca trong việc giáo dục đạo đức và truyền bá văn hóa. Những định hướng này giúp thi học Đại Việt phát triển theo hướng tích cực và đóng góp vào sự phát triển của văn hóa dân tộc.

VI. Giá Trị và Hướng Phát Triển Nghiên Cứu Thi Học Đại Việt

Nghiên cứu thi học Đại Việt thế kỷ XV-XVIII có giá trị to lớn trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử văn học Việt Nam và vai trò của thơ ca trong đời sống xã hội. Nghiên cứu này còn góp phần vào việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn về thi học Đại Việt, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và sự giao thoa văn hóa.

6.1. Ứng Dụng Nghiên Cứu Trong Giáo Dục Văn Học

Nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong giảng dạy và học tập văn học ở các trường học và đại học. Các kết quả nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm và phong cách thơ có thể được sử dụng để biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo. Việc giới thiệu những kiến thức về thi học Đại Việt giúp học sinh và sinh viên hiểu rõ hơn về lịch sử văn học dân tộc và nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

6.2. Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa liên quan đến thi ca. Việc biên dịch và xuất bản các tác phẩm thơ cổ giúp chúng tiếp cận được với đông đảo công chúng. Việc tổ chức các hội thảo, triển lãm và các hoạt động văn hóa khác giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của thi ca và góp phần vào việc xây dựng một xã hội văn minh.

27/04/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường thi học đại việt thế kỷ xv xviii qua một số bộ thi tuyển tiêu biểu

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI IIWGBHN BAO CAO TONG KET KET QUA THUC HIEN DE TAI KH&CN CAP DAI HQC QUOC GIA Tén dé tai: Thi học Dai Việt thé ky XV-XVIII qua một số bộ thi tuyễn tiêu biểu Mã số đề tài: QG.39 Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Vân Dung Hà Nội, tháng 4 năm 2024 PHẢN I. THÔNG TIN CHUNG 1. Tên đề tài: Thi học Đại Việt thé kỷ XV— XVIII qua một số bộ thi tuyển tiêu biéu 1.

Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài rr | Chức danh học VÌ HO va | Đơn vị công tác — |Vai trò thực hiện đề tài 1 TS. Phạm Vân Dung Trường ĐH KHXH & Chủ trì NV 2 PGS.Hà Văn Minh Trường ĐH Sư phạm Thành viên Hà Nội 3 TS. Lê Phương Duy | Trường ĐH KHXH & Thư ký NV 1. Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 1.

Thời gian thực hiện: 1. Theo hợp đồng: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 4 năm 2023 1. Gia hạn (nếu có): đến tháng 4 năm 2024 1. Thực hiện thực tế: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 4 năm 2024 1.

Những thay đỗi so với thuyết minh ban đầu (néu có): (Về mục tiêu, nội dụng, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân, Y kiên cua Cơ quan quản ly) 1. Tống kinh phí được phê duyệt của dé tài: 200 triệu đồng. TONG QUAN KET QUÁ NGHIÊN CUU Dat van dé Tho ca ra đời sớm va chiêm dia vi quan trong trong nên van hoc trung đại Việt Nam. Thơ không chi đơn thuần là phương tiện giãi bay tinh cảm, mà còn biểu trưng cho văn vận, văn hiến triều đại.

Phải hoc thơ dé làm chính trị, dé biết đối đáp khi đi sứ, ngoại giao nên tho còn được đưa vao trường thi. Từ thơ rồi đến thi học. Khái niệm “thi học” ở đây được xác định bao gồm cách học thơ, phép làm thơ, cách thâm định, quan niệm về thơ với những đặc trưng về phong cách cho mỗi thời kỳ, mỗi trào lưu, tác giả .“Thi học” cũng đồng nghĩa với thơ nói chung. Đề tài lựa chọn nghiên cứu thi học của quốc gia Đại Việt qua một giai đoạn cụ thé là từ thé ki XV đến thé ki XVIII, giai đoạn khởi đầu và phát triển mạnh 1 mẽ của nền thi học Đại Việt, thông qua bốn bộ thi tuyển (Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diém thi tap thuộc thé ki XV và Toàn Việt thi lục thuộc thé ki XVIII) xuất hiện sớm nhất va có giá trị đặc biệt quan trọng về các phương điện mà chưa có công trình nào thực hiện chuyên sâu trong mối tương quan.

Nghiên cứu nham xác lập được những van đề cơ bản của thi học quốc gia Đại Việt từ thế ki XV đến thé ki XVIII về các phương diện tư tưởng thi học, điện mạo thơ ca, những đặc trưng thi học qua phương thức tổ chức thi tuyển và thực tiễn tuyển chọn. Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp nghiên cứu văn bản học là phương pháp quan trọng đối với việc nghiên cứu những văn bản chữ Hán, nhằm dé xác định văn bản nghiên cứu, xác định thời điểm ra đời, lực lượng biên soạn, quá trình biên soạn một cách thực chứng; Phương pháp cấu trúc luận thực hiện phân tích các thành tố trong hệ thống cau trúc dé dé tim các gia tri theo quan hệ. Phương pháp này được sử dung trong việc phân tích cau trúc các bộ thi tuyên trong mối quan hệ với nhau; Phương pháp nghiên cứu trường hợp: nhằm khảo sát, nghiên cứu những văn bản thi tuyên đại diện, phục vụ cho việc xây dựng và phát triển những giả thuyết nghiên cứu; Phương pháp tiếp cận liên ngành: vận dụng phối hợp những phương pháp thuộc các chuyên ngành khác như Văn học, Sử học, Ngôn ngữ học, Van tự hoc, Văn hóa học. Ngoai ra, nghiên cứu còn sử dụng những thao tác khoa học khác như phân tích, quy nạp, đối chiếu, so sánh, thống kê mang tính định lượng và định tính trong quá trình triển khai.

Trước hết, nghiên cứu thực hiện giới thuyết một số vấn đề mang tính lý thuyết và tình hình văn bản của các bộ thi tuyển. Một số van dé lý thuyết về “thi học”, “thi tập”, “thi tuyển” và tình hình văn bản của các bộ thi tuyển. Một số van dé lý thuyết về “thi học”, “thi tập”, “thi tuyển” Id 66 Đề tài khảo sát, phân tích các khái niệm “thi học”, “thi tập”, “thi tuyến” trong các từ điển chuyên môn và một số công trình nghiên cứu của Trung Quốc, đồng thời khảo sát, phân tích các khái niệm “thi học”, “thi tập”, “thi tuyển” từ 2 thực tế sử dụng trong các văn bản thi tuyên chữ Hán Việt Nam và trong cách sử dụng của các nhà ngữ văn học Việt Nam thời trung đại; từ đó, tiễn hành đối chiếu, phân tích đề thấy được sự thống nhất và những nét riêng khác trong cách sử dụng các khái niệm này. Qua những khảo sát, đối chiếu đó cho thấy cách nói về thi học khá thống nhất trong phát biểu của nhiều nhà ngữ văn truyền thống.

Ngoài nghĩa chung theo khái niệm hay thuật ngữ của khoa nghiên cứu văn học hiện đại, cách dùng hay cách nói thi học được sử dung còn bao hàm các nghĩa dưới đây cho ứng với cach dùng và cách nói của chính những người biên tập và những người đã làm nên những bài thơ được sưu tập trong các bộ thi tuyên chữ Hán thé ky XV — XVIII mà theo đó, thi học bao gồm các nét nghĩa sau: + Thi học là cái học làm thơ, dé chỉ về các van đề liên quan đến phép làm thơ như cách lập ý, tìm hứng, dùng chữ, luyện câu, nghệ thuật phúng vịnh, tả cảnh ngụ tình, đặc biệt phản ánh sự thịnh - suy của thế đạo, có thể thấy lẽ được - mất của nhân tâm. + Thi học liên quan đến cách thâm tho, quan niệm về thơ với những đặc trưng về thé tài, phong khí, phong cách của mỗi thời ky, mỗi trào lưu, mỗi tác giả. Nhu vậy, thi học ở đây là thi học truyền thống, nói về cách làm thơ, hàm chứa nội dung ứng với việc xây dựng chế độ. Thi học cũng đồng nghĩa với “thơ” nói chung.

Quan điểm về thi hoc cũng là quan điểm về “thơ”. + Thi học cũng chỉ chính công việc mà các nhà biên tập các bộ thi tuyển đã làm cho yêu cầu sưu tập, biên tập, chỉnh lý thi ca chữ Hán của quốc gia, là cơ sở minh trưng cho Đại Việt là quốc gia văn hiến, để tạo nên cái căn bản cho học thuật nước nhà, dé người làm thơ lay d6 lam mau muc va hoc theo. Việc xác định nội dung cho khái niệm thi hoc là điều kiện cần thiết trong quá trình nghiên cứu lịch sử thơ ca Việt Nam trung đại. Trong các sách lý luận về văn học của thời hiện đại, hai chữ “thi học” cũng được nhắc đến khá nhiều.

Đó là những định nghĩa của người hiện đại, nhìn từ góc nhìn hiện đại nên không hoàn toàn trùng với ý nghĩa của hai chữ “thi học” truyền thống. Các khái niệm “thi tập”, “thi tuyển” Cách dùng các chữ “thi tập”, “thi tuyên” thường gắn liền với các tác phẩm về thơ. Tên gọi của các bộ sưu tập thơ có chức năng định danh và xác lập những nét chủ yếu nhất thê hiện chủ định biên tập, đối tượng được chọn theo yêu cầu và tiêu chí chọn mà chủ định biên tập có dự định hướng vào. Thông thường các bộ sưu tập thơ có kết cau định — trung mà thành phan trung tâm ngữ là hai chữ “if £2 thi tập (tập thơ), còn định ngữ thường là chủ nhân hay tác giả của thơ được chọn.

Chủ nhân được chọn thơ có thể là một thi gia nếu như đó là tập hợp tác pham thơ của một cá nhân. Chủ nhân được chon thơ có thé là một tập hợp tác giả, một khuynh hướng, một phạm vi nào đó mang tính không gian và thời gian nếu như đó là bộ sưu tập của một tập hợp nhiều tác giả. Khao sát cụ thé cho thấy, cách đặt tên “thi tập” rất phô biến với các tập thơ được sáng tác bởi một cá nhân tác giả. Mặt khác, có nhiều công trình lại có tính chất tuyển chọn thơ của nhiều tác giả, trải nhiều thời đại trong lịch sử với cách đặt tên khá phong phú với các thành phan trung tâm ngữ như: “thi tập”(tập tho); “thi lục”(ghi chép thơ); “thi sao” (sao chép thơ); “thi tuyên”(tuyển chon tho); “thi vựng” (phân loại tho); “hợp tuyên”(tập hợp tuyển chọn).

Trong các cách đặt tên đó, “thi tập”, “thi tuyên” là cách gọi chỉ rõ được tính chất tập hợp, tuyển chọn và đối tượng tuyển chọn cụ thể là thơ. Do vậy, cách gọi “thi tập”, “thi tuyên” ở đây được đề tài lựa chọn để chỉ chung cho các bộ sưu tập thơ chữ Hán của nhiều tác giả, trải nhiều thời đại trong lịch sử thơ ca nước nhà mà không phải cách gọi gắn với những tập thơ của một cá nhân riêng lẻ. Cách gọi này có thể được sử dụng đồng thời, tuy không đồng nhất nhưng lại bồ sung cho nhau.2 Tình hình văn bản của các bộ thi tuyển Nghiên cứu thực hiện thống kê, khảo sát về tình hình văn bản hiện tồn của bốn bộ thi tuyển tại các thư viện lớn lưu trữ thư tịch Hán Nôm trên địa bàn Hà Nội, đồng thời kết hợp với các nguồn sưu tầm khác, trên cơ sở đó, xác định, mô tả văn bản được lựa chọn nghiên cứu. Về tình hình văn bản của Việt âm thi tập, hiện còn khảo được 5 văn bản.

Khảo sát cho thấy, các văn bản Viét âm thi tập tồn tại ở dạng tàn khuyết, nhưng trong số đó, văn bản mang kí hiệu A.1925 là ban in hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, được đánh giá là bản sách “thuộc vào loại những bản in cổ nhất trong kho sách Hán Nôm hiện còn ngày nay” [Trần Văn Giáp, 1990, tr. 26], lại bảo lưu được phần đầu sách chứa đựng nhiều thông tin quan trọng nên được chọn làm cứ liệu khảo sát chính trong phạm vi đề tài này. Về tình hình văn ban Tinh tuyển chư gia luật thi, hiện tại còn khảo được hai văn bản đều lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: một bản kí hiệu A. 2657 là bản khắc in, mat phần dau, phan cuối, chỉ còn quyền 4, quyền 5 gồm thơ của các tác giả đời Lê; một bản kí hiệu A.

574 là bản chép tay, không có tựa, bạt hay lời dan, gồm quyên 1 và quyền 2, chép thơ của các thi gia đời Trần, Lê. Hai văn bản đều tồn tại ở các dang mang tinh tan khuyét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu Thi Học Đại Việt Thế Kỷ XV-XVIII: Phân Tích Tuyển Tập Thi Tiêu Biểu" mang đến cái nhìn sâu sắc về văn học thơ ca Việt Nam trong giai đoạn lịch sử quan trọng này. Tác phẩm không chỉ phân tích các tác phẩm tiêu biểu mà còn khám phá bối cảnh văn hóa, xã hội đã ảnh hưởng đến sự phát triển của thơ ca. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật và tư tưởng trong thơ ca, từ đó nâng cao nhận thức về di sản văn hóa của dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ giá trị tập thơ từ ấycủa tố hữu, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về giá trị của một tác phẩm thơ nổi bật trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và hiểu biết phong phú hơn về thơ ca Việt Nam.