CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU VỀ RÂY PHÂN TỬ 1.1 Khái niệm và phân loại Rây phân tử là các vật liệu rắn bên trong có hệ thống mao quản kích thước rất đồng nhất từ vài A o đến vài chục Ao tuỳ từng loại cấu trúc và có tác dụng như một cái rây để lọc phân tử theo hình dạng và kích thước của chúng[1]. Do độ đồng đều của hệ thống mao quản này mà chúng có độ chọn lọc trong các phản ứng hữu cơ rất cao. Hiện nay, rây phân tử bao gồm rất nhiều dạng và có thể tổng hợp từ nhiều nguyên tố khác nhau. Các dạng rây phân tử có thể được phân loại theo sơ đồ hình 1[5]: R©y ph©n tö Silicat phosphat C¸c hä kh¸c Silico Aluminophosphat Aluminosilicat Aluminophosphat Silicat kim lo¹i Aluminophosphat kim lo¹i phosphat kim lo¹i R©y ph©n tö thÓ b¸t diÖn Pillare clays R©y ph©n tö cacbon Hình 1: Sự phân loại hệ thống rây phân tử Rây phân tử cũng có thể được phân loại theo kích thước mao quản bao gồm: - Loại mao quản nhỏ, đường kính 3,8 4 Ao - Loại mao quản trung bình, đường kính 4,5 6 A o -4- - Loại mao quản rộng, đường kính 7 10 Ao.
Vào đầu thập niên 90, một họ rây phân tử mới đã được tổng hợp, mở rộng kích thước hệ thống mao quản lên đến 30, thậm chí 100 A o, đó là vật liệu M41S, mà dạng được nghiên cứu kỹ nhất là MCM- 41 có kích thước mao quản lên tới 30 Ao[6]. Các dạng rây phân tử cũng có vai trò quan trọng trong việc làm các vật liệu hấp phụ, xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá hữu cơ và đặc biệt là trong công nghệ lọc dầu. Các loại vật liệu dạng mao quản này cũng như các ứng dụng của chúng vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu. Với những thành công thu được các rây phân tử này đã trở thành một dạng vật liệu không thể thiếu trong các phản ứng tổng hợp hữu cơ, chế biến dầu mỏ.
Hướng phát triển nghiên cứu rây phân tử trong những năm tới là tổng hợp các dạng mới với hệ mao quản được mở rộng hơn, bền nhiệt hơn, có hoạt tính cao, đáp ứng yêu cầu của công nghệ lọc dầu. Trong số đó ưu tiên phát triển các dạng có hệ mao quản đa chiều.2 Rây phân tử Zeolite 1.1 Khái niệm Zeolite là các aluminosilicat tinh thể có cấu trúc không gian ba chiều với hệ thống lỗ xốp đồng đều và rất trật tự. Hệ thống mao quản(pore) này có kích thước cỡ phân tử, cho phép phân chia(rây) các phân tử theo hình dạng và kích thước[1]. Thành phần hoá học của Zeolite: Me2/nO.yH2O trong đó: Me là cation bù trừ điện tích khung có hoá trị n x là tỷ số mol SiO 2/Al2O3 y là số phân tử H2O -5- Giá trị x thay đổi trong một khoảng rộng tuỳ thuộc vào thành phần và cấu tạo của Zeolit.2 Phân loại Dựa vào đặc trưng và tính chất sử dụng của Zeolite người ta phân loại Zeolite theo 3 hướng chính như sau: - Phân loại theo nguồn gốc - Phân loại theo tỷ lệ Si/Al - Phân loại theo kích thước của mao quản a.
Phân loại theo nguồn gốc Phân loại theo nguồn gốc được chia làm hai loại gồm Zeolite tự nhiên và Zeolite tổng hợp. Các loại Zeolite tự nhiên kém bền luôn có xu hướng chuyển sang các pha khác bền hơn như Analcime hay Feldspars. Chỉ có một số ít Zeolite tự nhiên có khả năng ứng dụng thực tế như: Chabarit, Mordenit và Analcime. và chúng cũng chỉ phù hợp với các ứng dụng cần khối lượng lớn, không yêu cầu độ tinh khiết cao.
Zeolite tổng hợp: như Zeolite A (Faujasit(X,Y)) hay ZSM-5, ZSM- 11.đáp ứng với yêu cầu cho nghiên cứu và ứng dụng trong công nghiệp. Phân loại theo tỷ lệ Si/Al Việc phân loại này cho ta biết về những biến đổi tính chất của Zeolite. Zeolite được chia làm hai loại sau: - Loại giàu Al: Theo quy tắc của Lowenstein thì hàm lượng Si trong Zeolite luôn lớn hơn lượng Al có nghĩa là tỷ lệ Si/Al luôn lớn hơn hoặc bằng 1. Trong loại giàu Al gồm một số Zeolite sau: Zeolite 3A, 4A, 5A (Faurazit) -6- với các dạng tương ứng 3A (K +A), 4A (Na +A), 5A (Ca2+A).
Quan trọng nhất trong hai loại Zeolite giàu Al là NaX với tỷ lệ Si/Al = 1,1 1,2. - Loại có hàm lượng Si trung bình: Với loại Zeolite này tỷ lệ Si/Al từ 2 2,5. Các loại Zeolite thuộc họ này là Zeolite X,Y. - Loại giàu Si: Loại này tương đối bền nhiệt nên được sử dụng nhiều trong nhiều quá trình xúc tác có điều kiện khắc nghiệt.
Tiêu biểu cho Zeolite loại này là ZSM-5, ZSM-11. tỷ lệ Si/Al của các Zeolite này xấp xỉ 100 hoặc cao hơn nữa, đường kính mao quản từ 5,1 5,7 Ao. Phân loại Zeolite theo kích thước mao quản Phân loại theo kích thước mao quản rất thuận lợi trong việc nghiên cứu ứng dụng của Zeolite, theo cách này người ta phân chia Zeolite làm 3 loại: - Zeolite có mao quản rộng: đường kính mao quản lớn hơn 8 A o - Zeolite có mao quản trung bình: đường kính mao quản từ 5Ao đến 8 Ao - Zeolite có mao quản nhỏ: đường kính mao quản nhỏ hơn 5 A o 1.3 Cấu trúc của Zeolite Zeolite có cấu trúc tinh thể, sự khác nhau trong tinh thể của các loại Zeolite là do điều kiện tổng hợp, thành phần nguyên liệu, sự thay đổi các cation kim loại thay thế tại các nút mạng tạo nên. Các Zeolite đều có các bộ khung được tạo thành bởi mạng lưới không gian 3 chiều của các tứ diện TO 4 (T là nguyên tử Si hoặc Al).
Mỗi tứ diện này là đơn vị cấu trúc cơ bản của Zeolite, liên kết với 4 tứ diện xung quanh bằng cách gộp chung các nguyên tử oxi ở các đỉnh. -7- Việc tạo thành khung của cấu trúc Zeolite là do mối liên kết -Si-O-Si- hoặc -Si-O-Al- tạo ra. Xung quanh mỗi ion Si+4 là 4 nguyên tử O tạo thành khung tứ diện TO4 trong đó có một số tứ diện vị trí Si+4 được thay thế bằng Al +3 tạo ra tứ diện AlO4 −. Có thể biểu diễn đơn vị cấu trúc cơ bản của Zeolite như sau: O O O O O O Si + Al + O O Tứ diện [SiO4 ] Tứ diện [AlO4]− Hình 2: Đơn vị cấu trúc cơ bản của Zeolite Tứ diện cơ bản này có điện tích âm còn dư và nó được bù trừ bằng các cation trao đổi như K+ , Na+, Ca2+, NH4+, H+.
Các tứ diện SiO 4 và AlO4 − được liên kết với nhau một cách đặc biệt qua đỉnh oxi tạo thành các ô mạng hình học cơ sở có dạng như sau: − − − − − −− Hình 3 : Các ô mạng cơ sở Như vậy đặc trưng của Zeolite là hệ thống mao quản. Nhờ các liên kết đặc biệt của các đơn vị cấu trúc cơ bản TO 4 cấu trúc của Zeolite trở nên -8- “xốp” với hệ thống mao quản đan xen có quy tắc tạo các “cửa sổ” có kích thước nhất định tuỳ từng loại Zeolite. Tính chất hấp phụ Do có cấu trúc xốp, hệ mao quản có kích thước đồng nhất chỉ cho các phân tử có hình dạng, kích thước phù hợp đi qua nên zeolit được sử dụng để tách các hỗn hợp khí lỏng hơi… Các zeolit dehydrat hoá có diện tích bề mặt bên trong chiếm 90% diện tích bề mặt tổng, nên phần lớn khả năng hấp phụ là nhờ hệ thống mao quản. Bề mặt ngoài của zeolit không lớn, nên khả năng hấp phụ bởi bề mặt ngoài là không đáng kể.
Zeolit có khả năng hấp phụ một cách chọn lọc, xuất phát từ hai yếu tố chính: + Kích thước cửa sổ mao quản của zeolit dehydrat hoá chỉ cho phép lọt qua những phân tử có hình dạng, kích thước phù hợp. Lợi dụng tính chất này người ta có thể xác định kích thước mao quản theo kích thước phân tử chất bị hấp phụ hoặc chất không bị hấp phụ ở các điều kiện nhất định. + Năng lượng tương tác giữa trường tĩnh điện của zeolit với các phân tử có mô men lưỡng cực. Điều này liên quan đến độ phân cực của bề mặt và của các chất bị hấp phụ.
Bề mặt càng phân cực hấp phụ càng tốt chất phân cực và ngược lại bề mặt không phân cực hấp phụ tốt chất không phân cực. Do đó, có thể thay đổi khả năng hấp phụ chọn lọc đối với phân tử một chất cần hấp phụ bằng cách thay đổi các yếu tố: + Thay đổi năng lượng tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ bằng cách cho hấp phụ một lượng nhỏ chất bị hấp phụ thích hợp trước đó. + Thay đổi kích thước cửa sổ mao quản, khả năng phân cực của chất bị hấp phụ bằng cách trao đổi ion. -9- + Giảm tương tác tĩnh điện của zeolit với phân tử chất bị hấp phụ bằng cách tách hoàn toàn cation ra khỏi zeolit như: phân huỷ nhiệt zeolit đã trao đổi NH4 +, xử lý axít,.
Zeolit là chất hấp phụ có dung lượng lớn, độ chọn lọc cao. Do đó người ta sử dụng nó để tách và làm sạch parafin, làm khô khí, tách oxi từ không khí, tách CO 2, SO2, H2S… từ khí tự nhiên, khí đồng hành, khí dầu mỏ… b. Tính chất trao đổi cation Các cation bù trừ điện tích khung trong zeolit rất linh động vì vậy chúng có thể bị thay thế bởi các cation khác bằng cách trao đổi ion. Khả năng trao đổi cation của zeolit phụ thuôc vào các yếu tố sau: + Bản chất, kích thước, trạng thái và điện tích của cation trao đổi.
+ Nhiệt độ trao đổi + Nồng độ của loại cation trong dung dịch trao đổi + Loại ion liên hợp với cation trong dung dịch trao đổi + Dung môi + Đặc tính cấu trúc của zeolit. Quá trình trao đổi cation của zeolit được biểu diễn theo cân bằng sau: Z+ Z+ + + ZA B (Z)B + Z B A (S)A Z A B Z(S)B + Z B A Z(Z)A trong đó: ZA, ZB lần lượt là điện tích của cation trao đổi A, B (z), (s) là chỉ số của cation trong zeolit và dung dịch tương ứng Sự trao đổi cation trong zeolit dẫn tới sự thay đổi độ bền, tính chất hấp phụ, độ chọn lọc, hoạt tính xúc tác và các tính chất quan trọng khác. Tính chất trao đổi cation của zeolit được ứng dụng để làm mềm nước, tách NH 4+ từ - 10 - nước thải công nghiệp và tách lọc các ion phóng xạ từ các vật liệu thải phóng xạ.