Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHAI PHÁ QUAN ĐIỂM 1.1 Khai phá quan điểm 1.1 Giới thiệu chung Khai phá quan điểm là lĩnh vực nghiên cứu mà cố gắng để làm cho hệ thống tự động xác định quan điểm của con người từ văn bản được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên. Khai phá quan điểm nghiên cứu về ý kiến, tình cảm, quan niệm chủ quan, đánh giá, thái độ, thẩm định, cảm xúc… được thể hiện trong văn bản. Những điều đó được thể hiện qua các nhận xét, blog, các cuộc thảo luận, tin tức, bình luận, phản hồi… hay các tài liệu khác. Khai phá quan điểm dựa trên ngôn ngữ tính toán, truy vấn thông tin, khai thác văn bản, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, học máy, thống kê và phân tích dự đoán.
Đây là lĩnh vực khai phá văn bản, liên quan đến việc áp dụng các giải pháp của xử lý ngôn ngữ tự nhiên và của học máy để trích xuất và xác định quan điểm được thể hiện trong văn bản. Khai phá quan điểm dựa trên đặc trưng là một trong ba bài toán cơ bản trong khai phá quan điểm, bao gồm: bài toán phân lớp quan điểm, bài toán khai phá và tổng hợp quan điểm dựa trên đặc trưng và bài toán khai phá quan hệ so sánh. Bài toán khai phá và tổng hợp quan điểm dựa trên đặc trưng nhằm mục tiêu tạo ra một bản tổng hợp quan điểm dựa trên các đặc trưng của sản phẩm được người dùng đề cập trong văn bản và từ đó xác định các ý kiến đánh giá được đưa ra. Đối tượng dữ liệu được quan tâm hiện nay [8] phân bố ở trên các mạng xã hội, các dự án cộng tác, các blog, các cộng đồng,… đều là các bài đánh giá nêu quan điểm trực tuyến.
Đặc điểm của những bài đánh giá trực tuyến thường là đánh giá cho một sản phẩm hay một dịch vụ cụ thể, có dạng văn bản, có thể có đánh giá theo tiêu chí thang điểm hay là những cụm câu ngắn tổng kết tính năng ưu nhược và thường được viết với ngôn ngữ tự nhiên đa dạng. Ngoài ra các nguồn đề thu thập ý kiến có thể là từ những phản hồi của khách hàng qua thư điện tử mail, cuộc gọi yêu cầu hỗ trợ đến 5 trung tâm dịch vụ; từ tin tực báo cáo, từ những diễn đàn thảo luận, facebook, tweets… đều có kiểu không tập trung và vụn vặt; đặc biệt là thuần văn bản. Những đánh giá kiểu này sẽ giúp ích rất nhiều khách hàng cũng như nhà sản xuất. Khách hàng thì có thể giúp họ ra quyết định khi mua sản phẩm hoặc dịch vụ.
Với các nhà sản xuất đây là nguồn phản hồi để đánh giá hiệu quả, mà theo truyền thống những nhà sản xuất phải thường dành nhiều tiền cho việc thu thập ý kiến, khảo sát,… Tất nhiên rằng ý kiến của một người không đủ để quyết định hành động trừ ngoại lệ người đó được biết đến như một chuyên gia và có những lời khuyên bổ ích được đánh giá cao, thì việc tổng hợp ý kiến từ rất nhiều người mới có tính thuyết phục cao hơn, khai phá quan điểm chính là để phát hiện những mẫu dạng những những ý kiến đó. Vấn đề là có quá nhiều các bài đánh giá cần phải xem xét, nhiều khía cạnh được quan tâm, hơn nữa rằng người dùng viết ý kiến của mình theo phong cách riêng thường không có cấu trúc và đúng ngữ pháp, cũng có quá nhiều bài gây nhiễu chất lượng thấp, spam,… Như vậy, một nhiệm vụ quan trọng để giải quyết bài toán loại này là xác định các đặc trưng đối tượng mà người dùng nhận xét, đánh giá. Đây chính là nội dung trọng tâm mà luận văn tìm hiểu giải quyết.2 Những thách thức trong khai phá quan điểm với dữ liệu đánh giá Đặc điểm của một bài đánh giá trực tuyến thường là gồm các thực thể, người nêu quan điểm và thời gian đưa ra quan điểm đó; những bài đánh giá này có thể gặp được ở các blog, các diễn dàn forum,… mà đều không rõ cụ thể về thực thể hay khía cạnh nào, thường được nêu ra không theo chủ đề hay cấu trúc nào, ngoài ra còn có thể so sánh với nhiều loại khác, thậm chí cả những thông tin không hề liên quan. Có thể kể đến những thách thức trong quá trình khai phá quan điểm dựa trên khía cạnh bao gồm: 6 Một khía cạnh được thể hiện bằng nhiều từ khác nhau.
Với ví dụ rằng “ảnh chụp từ con này đẹp hơn hình của con samsung Galaxy” cùng nói về một tính năng ảnh chụp nhưng có thể nói bằng những cách khác nhau. Những từ quan điểm thể hiện mực độ đánh giá giống nhau. Ví dụ như “cái này thường thôi, dùng tạm khi cần” Gây khó khăn rất lớn trong quá trình thu thập dữ liệu đó là nhiễu, những thông tin dư thừa không liên quan có thể lẫn vào, thậm chí chiếm phần lớn nội dung, do người dùng khá tự do và không có luật gì rằng buộc. Việc xếp hạng hay các khía cạnh được thể hiện không rõ ràng.
Ngôn ngữ người dùng đã nhập nhằng và đôi khi họ chỉ nêu lên những ý kiến trung lập không thể hiện rõ thái độ tích cực hay tiêu cực, ví dụ như trong câu “thiết kế của em này to” không rõ người dùng cảm thấy tốt hay không. Có sự so sánh các quan điểm. Hẳn nhiên việc so sánh là thường diễn ra và cần phân biệt khía cạnh đang đề cập đến là nói về sản phẩm nào… ví dụ như câu “về chụp ảnh thì Samsung thua xa iPhone, cơ mà giá thì ngon hơn nhiều” 1.3 Các định nghĩa trong khai phá quan điểm Sau đây sẽ là hệ thống một số khái niệm trong lĩnh vực khai phá quan điểm này, được định nghĩa bởi B. “Một quan điểm là một phát biểu, cách nhìn, thái độ hoặc định giá chủ quan về một thực thể hay một khía cạnh của thực thể nào đó”.
“Một ý kiến có thể được phân loại thành kiểu tiêu cực, tích cực hay trung lập. Có thể gọi là hướng quan điểm hay cực của quan điểm”. Từ quan điểm: “Từ thể hiện được quan điểm của người đánh giá được gọi là từ quan điểm”. Quan điểm hiện và quan điểm ẩn: “Một quan điểm hiện về một đặc trưng f là một câu chủ quan mà trực tiếp biểu đạt một quan điểm tích cực hoặc tiêu cực.
Một quan điểm ẩn về một đặc trưng f là một câu khách quan mà ám chỉ một quan điểm tích cực hay tiêu cực”. 7 Ví dụ: Câu = “Điện thoại Blackberry có thiết kế rất nam tính”. Quan điểm của người dùng trên đặc trưng “nội dung” (điện thoại Blackberry) là một quan điểm hướng tích cực, vì sử dụng từ quan điểm “hay”. Đoạn đánh giá về một đặc trưng: Đoạn văn bản đánh giá về một đặc trưng f của đối tượng O trong s là một tập các câu liên tiếp trong s diễn tả quan điểm tích cực, tiêu cực hay trung lập về đặc trưng f.
Người đánh giá: Là người hay tổ chức cụ thể đưa ra lời đánh giá. Với các đánh giá về sản phẩm trên diễn đàn hay blog, người đánh giá chính là tác giả của đánh giá hay bài viết. Đối tượng và đặc trưng của đối tượng Nhìn chung, các quan điểm có thể biểu đạt đánh giá về bất cứ điều gì, chẳng hạn, một sản phẩm, một cá nhân, một tổ chức, một sự kiện, một chủ đề…Chúng ta sử dụng thuật ngữ tổng quát đối tượng để chỉ các thực thể được đánh giá đó. Đối tượng có tập các thành phần và tập các thuộc tính.
Một đối tượng có thể được phân rã căn cứ vào mối quan hệ thành phần “part-of”, mỗi thành phần có thể có các thành phần con….Chẳng hạn, một sản phẩm (ô tô, điện thoại di động, máy ảnh kĩ thuật số…) có thể có các thành phần khác nhau, một sự kiện có thể có các sự kiện con, một chủ đề có thể có các chủ đề con,… Một đối tượng O là một thực thể (một sản phẩm, một người, một sự kiện…), có liên hệ tới 1 cặp, O: (T, A), với T là một cấu trúc phân cấp của các thành phần. A là tập các thuộc tính của đối tượng O. Mỗi thành phần thuộc đối tượng O lại có tập các thành phần và tập các thuộc tính của nó. Để làm rõ hai khái niệm thành phần và thuộc tính trong định nghĩa đối tượng ở trên, có một ví dụ đơn giản như sau: Xét đối tượng là điện thoại Nokia N72.
Đối tượng này có một tập các thành phần, như: pin, màn hình và một tập các thuộc tính như chất lượng âm thanh, kích cỡ, cảm ứng. Thành phần pin cũng có một tập các thuộc tính như: chất lượng pin, kích cỡ pin. 8 Một đối tượng O được biểu diễn như một cây. Gốc chính là đối tượng O.
Mỗi nốt không là gốc là một thành phần hoặc thành phần con của O. Mỗi nhánh liên kết thể hiện mối quan hệ “part-of”. Mỗi nốt cũng liên hệ với một tập các thuộc tính. Nokia N72 Pin Màn hình Chất lượng Kích cỡ Cảm ứng Hình 1.1 Ví dụ biểu diễn cây đối tượng Một sản phẩm máy ảnh có tập các thành phần như pin, màn hình…và tập các thuộc tính như chất lượng pin, kích cỡ pin, cảm ứng.
Thành phần pin cũng có tập thuộc tính của nó như chất lượng pin, kích cỡ pin, trọng lượng pin. Quan điểm có thể được thể hiện trên đối tượng (nút gốc), chẳng hạn như: “Tôi không thích điện thoại này”, hoặc trên một thuộc tính của đối tượng, như “Chất lượng ảnh của điện thoại này kém”, trên một thành phần của đối tượng như “Camera của điện thoại này kém” hoặc trên thuộc tính của một thành phần, chẳng hạn như “Tuổi thọ pin của điện thoại này ngắn”. Như vậy thành phần và thuộc tính chính là đặc trưng quan điểm (hay đặc trưng) của đối tượng. Để đơn giản từ “đặc trưng” được sử dụng để thể hiện cả thành phần và thuộc tính của đối tượng.
Đặc trưng có hai loại là đặc trưng ẩn và đặc trưng hiện. Nếu đặc trưng f xuất hiện tường minh trong tài liệu biểu đạt quan điểm đánh giá r thì f được gọi là một đặc trưng hiện trong r. Nếu f không xuất hiện tường minh trong r nhưng được ngầm nói đến thì f được gọi là một đặc trưng ẩn trong r. 9 Ví dụ Đặc trưng “tuổi thọ pin” trong câu “Tuổi thọ pin của điện thoại này rất ngắn.” là một đặc trưng hiện.
Đặc trưng “kích thước” trong câu “Điện thoại này quá nhỏ.” là một đặc trưng ẩn. Không rõ người dùng cảm thấy phù hợp hay không hài lòng.