chương 1 sẽ trình bày các kiến thức tổng quan về OFDM bao gồm: khái niệm, cơ sở kỹ thuật, nguyên lý của kỹ thuật OFDM; cấu trúc và nguyên lý làm việc của hệ thống OFDM; vấn đề đồng bộ, ưu nhược điểm và ứng dụng của OFDM. Giới thiệu chung OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplexing) là kỹ thuật điều chế đa sóng mang sử dụng các sóng mang con trực giao với nhau. Trong kỹ thuật OFDM, luồng bit tốc độ cao được chia thành nhiều luồng con có tốc độ thấp hơn và phát trên các kênh song song (gọi là kênh con), mỗi kênh con được mang bởi một sóng mang con và các sóng mang con này trực giao với nhau. Phương pháp điều chế này mang lại một số ưu điểm vượt trội như: khả năng truyền tin tốc độ cao, sử dụng băng thông hiệu quả, khả năng chống lại fading chọn lọc tần số, điều chế và giải điều chế tín hiệu đơn giản do sử dụng thuật toán IFFT, FFT… Kỹ thuật điều chế đa sóng mang trực giao không phải là mới, thực tế nó đã xuất hiện từ cuối năm 1950, khi đó điều chế đa sóng mang đã được sử dụng trong quân đội.
Tuy nhiên, ở thời điểm đó nó không phải là một thành công nổi bật vì thực hiện phức tạp do sử dụng các thiết bị tương tự. Cho đến năm 1971, Weinstein và Ebert đã giải quyết được vấn đề này bằng cách thực hiện một hệ thống đa sóng mang sử dụng thuật toán IDFT/DFT. Sau đó, nguyên lý của điều chế đa sóng mang được phát triển và ứng dụng trong rất nhiều các chuẩn truyền thông và đáp ứng tốt yêu cầu của thời đại thông tin băng rộng, đặc biệt trong các hệ thống thông tin vô tuyến. Trong những năm gần đây, OFDM được đặc biệt quan tâm và ứng dụng trong nhiều các chuẩn truyền thông khác nhau.
Các ứng dụng cụ thể của OFDM: + DMT (Discrete MultiTone) được phát triển cho các ứng dụng hữu tuyến băng rộng sử dụng làm kỹ thuật điều chế cho các đường dây thuê bao số tốc độ bit cao (HDSL), đường dây thuê bao số bất đối xứng (ADSL) và hầu hết các đường dây thuê bao số tốc độ rất cao (VDSL). + OFDM đã được khai thác trong các tiêu chuẩn phát thanh/truyền hình số 1 quảng bá ở châu Âu (DAB/ DVB-T) và được lựa chọn cho các ứng dụng của mạng truy nhập vô tuyến WLAN. OFDM tiếp tục được nghiên cứu và ứng dụng cho các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 4. Ngoài ra có một số ứng dụng sử dụng kỹ thuật đa sóng mang bao gồm các dịch vụ vô tuyến băng rộng cố định và di động, vô tuyến băng cực rộng (ultrawideband radio), hệ thống đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao (OFDMA).
OFDM cũng có thể được sử dụng kết hợp với các kỹ thuật điều chế khác (MC-CDMA). Cơ sở kỹ thuật OFDM 1. Phương pháp điều chế đơn sóng mang Hình 1. Phổ tín hiệu đơn sóng mang Trong phương pháp điều chế đơn sóng mang, luồng tín hiệu được truyền đi trên toàn bộ băng tần B với một tần số sóng mang f 0.
Phổ tín hiệu của hệ thống đơn sóng mang được biểu diễn như hình 1. Tần số lấy mẫu của hệ thống bằng độ rộng băng tần và mỗi tín hiệu có độ dài là: 1 TSC = (1.1) Trong các hệ thống vô tuyến băng rộng, kênh vô tuyến có băng thông lớn và thường lớn hơn băng thông kết hợp của kênh. Khi đó kênh vô tuyến là kênh phụ thuộc tần số. Tốc độ lấy mẫu của thông tin vô tuyến băng rộng rất lớn, vì thế chu kỳ lấy mẫu TSC rất nhỏ.
Do đó phương pháp điều chế đơn sóng mang có những nhược điểm sau: 2 - Ảnh hưởng của nhiễu liên ký hiệu (ISI) gây ra bởi hiệu ứng truyền dẫn đa đường đối với tín hiệu thu rất lớn. Nguyên nhân do độ dài của một mẫu tín hiệu TSC rất nhỏ so với trễ truyền dẫn lớn nhất của kênh max. Do vậy ảnh hưởng của trễ truyền dẫn có thể gây ra nhiễu liên ký tự ISI ở nhiều mẫu tín hiệu thu. - Ảnh hưởng của sự phụ thuộc vào tần số của kênh là rất lớn đối với chất lượng của hệ thống.
Do đối với các hệ thống vô tuyến băng rộng, độ rộng phổ tín hiệu truyền qua kênh lớn hơn rất nhiều so với băng thông kết hợp của kênh, khi đó hiện tượng fading chọn lọc tần số trên kênh truyền sẽ tác động tới chất lượng tín hiệu là rất lớn. Để khắc phục được những nhược điểm nêu trên yêu cầu bộ cân bằng kênh và lọc nhiễu ở máy thu là phức tạp. Phương pháp điều chế đơn sóng mang hiện nay vẫn đang được sử dụng chủ yếu trong thông tin băng hẹp như hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM. Tuy nhiên với những yêu cầu của hệ thống vô tuyến băng rộng, phương pháp điều chế đơn sóng mang không còn phù hợp, từ đó dẫn tới sự ra đời của phương pháp điều chế đa sóng mang (FDM).
Phương pháp điều chế đa sóng mang Hình 1. Phổ tín hiệu đa sóng mang Với phương pháp điều chế đa sóng mang (FDM), toàn bộ băng tần của hệ thống được chia ra làm nhiều băng con, mỗi băng con sử dụng một sóng mang con khác nhau. Nguyên lý của phương pháp này được mô tả như hình 1. Trong phương pháp điều chế đa sóng mang, phổ của tín hiệu của hệ thống chia thành N kênh song song hay còn gọi là kênh con ( N = 2L +1 ).
Vì vậy, độ dài của 3 mẫu tín hiệu trong điều chế đa sóng mang sẽ lớn hơn N lần so với độ dài mẫu tín hiệu trong điều chế đơn sóng mang: 1 TS = = TSC .2) fS Khi đó tỷ số giữa trễ truyền dẫn lớn nhất của kênh với độ dài mẫu tín hiệu trong điều chế đa sóng mang cũng giảm đi N lần. Do vậy, ảnh hưởng của nhiễu liên ký hiệu gây ra bởi trễ truyền dẫn sẽ giảm (chỉ ảnh hưởng tới một số ít các mẫu tín hiệu). Từ đó ta có thể rút ra một số các ưu điểm cơ bản của điều chế đa sóng mang so với các phương pháp điều chế đơn sóng mang là: - Ảnh hưởng của nhiễu liên ký hiệu ISI đến chất lượng hệ thống giảm đáng kể. Do tỷ số giữa trễ truyền dẫn lớn nhất của kênh với độ dài mẫu tín hiệu giảm đi N lần, khi đó nhiễu liên ký hiệu ISI chỉ ảnh hưởng tới một số ít các mẫu tín hiệu.
Nếu N đủ lớn nhiễu ISI gây ra bởi một mẫu tín hiệu chỉ ảnh hưởng tới một tín hiệu liền sau nó. - Giảm ảnh hưởng của fading chọn lọc tần số đối với chất lượng hệ thống, do băng thông của hệ thống được chia thành nhiều kênh con. Nếu số kênh con đủ lớn phổ tín hiệu truyền trên các kênh con sẽ nhỏ hơn băng thông liên kết của kênh. Khi đó hiện tượng fading trên kênh truyền là fading phẳng.
Hai ưu điểm trên giúp cho việc thiết kế bộ cân bằng kênh và lọc nhiễu cho hệ thống ở bên thu đơn giản hơn. Tuy nhiên phương pháp điều chế đa sóng mang còn một số nhược điểm cơ bản sau: - Hệ thống nhạy cảm với hiệu ứng phụ thuộc thời gian của kênh. Nguyên nhân là do độ dài của một mẫu tín hiệu tăng lên sẽ lớn hơn thời gian kết hợp của kênh, dẫn đến sự biến đổi theo thời gian của kênh vô tuyến có thể xảy ra trong quá trình truyền một mẫu tín hiệu qua kênh. - Phương pháp điều chế đa sóng mang không làm tăng hiệu quả sử dụng băng tần của hệ thống so với phương pháp điều chế đơn sóng mang, ngược lại nếu sử dụng khoảng tần số bảo vệ giữa các kênh con thì hiệu quả sử dụng tần số của hệ thống sẽ 4 giảm.
Để làm tăng hiệu quả sử dụng tần số mà vẫn giữ được các ưu điểm của điều chế đa sóng mang, phương pháp điều chế đa sóng mang trực giao OFDM đã được đề xuất. Phương pháp điều chế đa sóng mang trực giao Hình 1. Phổ tín hiệu OFDM Phương pháp điều chế đa sóng mang trực giao (OFDM) là trường hợp đặc biệt của phương pháp điều chế đa sóng mang. Trong OFDM các sóng mang con được lựa chọn sao cho mỗi sóng mang con trực giao với các sóng mang con còn lại (khái niệm về trực giao sẽ được trình bày trong mục 1.
Điều này được thực hiện bằng cách chọn độ giãn cách tần số giữa các sóng mang con một cách hợp lý. Tính chất trực giao giữa các sóng mang con cho phép phổ tín hiệu của các kênh con có thể chồng lấn lên nhau mà bên thu vẫn có thể thực hiện giải điều chế chính xác. Ý tưởng của phương pháp này được mô tả như hình 1. Phổ tín hiệu của một kênh con 5 Trong tín hiệu OFDM, phổ tín hiệu của một kênh con có dạng sin(x)/x như biểu diễn trên hình 1.4, các kênh con được bố trí trên miền tần số cách đều nhau một khoảng sao cho điểm cực đại của một kênh con là điểm không của kênh con lân cận (như hình 1.
Khi đó nguyên lý trực giao được thỏa mãn và cho phép máy thu khôi phục lại được tín hiệu. Phổ tín hiệu của một hệ thống 4 kênh con Như vậy với việc sử dụng các sóng mang con trực giao, ngoài các ưu điểm giống với FDM, kỹ thuật OFDM còn làm tăng hiệu quả sử dụng tần số do có thể chồng phổ tín hiệu giữa các kênh con mà không gây ảnh hưởng lẫn nhau. Nguyên lý OFDM Kỹ thuật OFDM giúp tăng hiệu quả sử dụng tần số do phổ tín hiệu của các kênh con chồng lấn lên nhau mà bên thu vẫn có thể thực hiện giải điều chế chính xác. Để đạt được điều đó, các sóng mang con được sử dụng trong các kênh con phải đảm bảo trực giao với nhau.
Sự trực giao của các sóng mang con Xét một tập hợp tín hiệu S gồm N phần tử:. Điều kiện để các S =Si (t )i=1,2,., N tín hiệu trong tập S trực giao đôi một với nhau: t2 k , p = q t * S p ( t ).3) 1 0, p q Trong đó S q* (t ) là liên hợp phức của Sq (t ) , khoảng thời gian từ t1 tới t 2 là chu 6 kỳ của tín hiệu, k là hằng số. Từ tính chất của tập các tín hiệu trực giao, nếu thực hiện truyền tín hiệu trên tập các sóng mang con trực giao thì bên thu muốn tách tín hiệu sóng mang con nào chỉ cần nhân với liên hợp phức của sóng mang con đó. Điều này cho phép phổ tín hiệu trên các sóng mang con có thể chồng lấn lên nhau.