Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phúc lợi xã hội cho người cao tuổi Chương 2: Thực trạng dân số cao tuổi và các van dé đổi với người cao tuổi ở Việt Nam Chương 3: Thực trạng hệ thống phúc lợi xã hội cho người cao tuổi tại Trung Quốc và Việt Nam Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống phúc lợi xã hội cho người cao tudi tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHÚC LỢI XÃ HỘI CHO NGƯỜI CAO TUOI 1. Một số van đề lý luận liên quan 1. Một số van đề lý luận về phúc lợi xã hội 1.
Khái niệm phúc lợi xã hội Thuật ngữ “phúc lợi xã hội” không có định nghĩa chính xác. Thuật ngữ này được hình thành với một quá trình lịch sử. Lịch sử phúc lợi xã hội là một nghiên cứu liên ngành về sự phát triển của các hoạt động từ thiện, các hoạt động có tổ chức liên quan đến các phong trào cải cách xã hội và các dịch vụ xã hội công hoặc phi lợi nhuận được thiết kế để bảo vệ hoặc mang lại lợi ích cho các cá nhân, gia đình và công dân của xã hội lớn hơn. Các nỗ lực từ thiện thường xuất phát từ niềm tin tôn giáo - niềm tin đã truyền cảm hứng cho những người cải cách đến lòng trắc ân sâu sắc, niềm tin đạo đức vững vàng và ý thức công lý mạnh mẽ.
Nền tảng đức tin của những người cải cách là nền tảng của các phong trào như bãi bỏ, ôn hòa và thành lập các nhà định cư. Và từ những ngày đầu tiên của đất nước, các nhóm và cá nhân tôn giáo đã cung cấp lao động và hỗ trợ tài chính đáng ké cho cải cách xã hội và viện trợ nhân đạo. Một bước quan trọng đầu tiên trong việc tạo ra các chương trình phúc lợi xã hội có tổ chức là việc Quốc hội Anh ban hành Luật Người nghèo năm 1601 của Elizabeth (Elizabethan Poor Law of 1601). Luật này cho phép chính phủ cung cấp cho người nghèo sống trong các giáo xứ địa phương và thiết lập một hệ thống tài trợ bắt buộc bên ngoài nhà thờ.
[47] Các nguyên tắc và chính sách của Luật Người nghèo ở Anh được thực hiện bởi những người định cư ở các thuộc địa Hoa Kỳ trong những năm đầu; tuy nhiên, tác động của Chiến tranh Cách mạng 1776, nhập cư quy mô lớn, công nghiệp hóa nhanh chóng và đô thị hóa rộng rãi đã làm tăng tỷ lệ đói nghèo và tăng chỉ phí thuế cần thiết dé cứu trợ người nghèo. Dé cắt giảm chi phí cứu trợ người nghèo, các dao luật mới của Hoa Kỳ đã được ban hành vào cuối thé ky XVI để không một người nào trong độ tuổi từ 18 đến 50 được hỗ trợ công; và những cư dân trẻ, già và tàn tật 17 không thể tự chăm sóc cho bản thân được đưa vào các cơ sở công cộng hoặc tôn giáo. Vào thé ky XVII tại Hoa Kỳ, hoàn cảnh đã đòi hỏi sự quan tâm của công chúng nước Mỹ nhiều hơn đến việc ngăn chặn đói nghéo và các tệ nạn xã hội khác và tìm cách giúp những người có nhu cầu trở nên độc lập và tự chủ hơn. Góp phần vào điều nay là sự yếu kém các điều kiện chăm sóc thể chế và một số phát triển đáng kể như dòng người nhập cư lớn, tốc độ tăng trưởng công nghiệp và đô thi, lương thấp, nhà ở 6 chuột, bệnh tật và lao động trẻ em.
Những điều kiện này đã phát triển các nỗ lực y tế công cộng lớn hơn, phong trào sức khỏe tâm thần, phong trào nhà định cư và các chương trình khác. Ví dụ, đầu thế kỷ XVII, người nhập cư vào nước Mỹ, chủ yếu là những người Công giáo Đức và Ireland rất nghèo. Những người nước ngoai này không được chao đón vào xã hội theo tín ngưỡng Tin lành của Hoa Kỳ, họ cũng không nhận được sự giúp đỡ từ các tô chức từ thiện tư nhân hoặc giáo phái hiện có. Cuối cùng, những công dân Mỹ mới này sẽ thích nghi và thành lập các tổ chức từ thiện và dịch vụ xã hội của riêng họ tương tự như những gi cộng đồng Do Thái và Tin lành đã cung cấp cho các thành viên của họ.
Bước cuối cùng trong sự phat triển của lịch sử phúc lợi xã hội hiện đại được xác định bởi tác động của cuộc Đại suy thoái 1929 dẫn tới việc ban hành Đạo luật An sinh xã hội và các chương trình hỗ trợ người dân. Hậu quả của cuộc Đại suy thoái đã thúc đây Tổng thống Franklin D. Roosevelt và Quốc hội ban hành các chính sách “Thỏa thuận mới” nhằm cung cấp cho một số lượng lớn người lao động thất nghiệp việc làm có lương. Những sáng kiến nay là động lực dé thành lập Quân đoàn Bảo tồn Dân sự, Cơ quan Quản lý Thanh niên Quốc gia, Cơ quan Quản lý Tiến độ Công trình và Cơ quan Quản lý Công trình Công cộng.
Các chương trình cứu trợ việc làm của liên bang được hau hết người Mỹ ưa thích vì chúng khiến người dân cảm thấy mình giành được trợ cấp công cộng một cách xứng đáng hơn là đơn giản được cấp phát món tiền trợ cấp. Ngày 15 tháng 8 năm 1935, việc ban hành Đạo luật An sinh xã hội Hoa Kỳ đã thiết lập một hệ thống quốc gia về bảo hiểm tuôi già cho người lao động vê hưu, trợ cap cho nạn nhân của các vụ tai nạn lao động, 18 bảo hiểm thất nghiệp, viện trợ cho ba mẹ và trẻ em phụ thuộc, người mù va người tan tật. The Great Society là một tập hợp các chương trình trong nước được dua ra trong nhiệm kỳ của Tổng thống Lyndon B. Mục tiêu chính là xóa bỏ đói nghèo và bất công về chủng tộc.
Trong giai đoạn này, các chương trình chi tiêu lớn mới được đưa ra nhằm giải quyết vấn dé giáo dục, chăm sóc y tế, các van dé đô thị, nghèo đói ở nông thôn và giao thông. Hiện nay, phúc lợi xã hội đề cập đến một loạt các hoạt động và dịch vụ của các tình nguyện viên, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan chính phủ nhằm giúp đỡ những người khó khăn không thé tự chăm sóc bản thân; các hoạt động và nguồn lực được thiết kế để nâng cao hoặc thúc đây hạnh phúc của các cá nhân, gia đình và xã hội rộng lớn hơn; và nỗ lực loại bỏ hoặc giảm tỷ lệ các van đề xã hội. Đặc điểm của phúc lợi xã hội Hệ thống phúc lợi xã hội là một hệ thống mà qua đó Chính phủ quốc gia và các tổ chức chính quyền địa phương cung cấp những cứu trợ cần thiết cho người nghéo, trẻ em can duoc bao vé, gia dinh mồ côi, người già bị tàn tật như khuyết tật và người khuyết tật, và dé hỗ trợ cuộc sống và thúc day tự túc. Các đặc điểm chính của phúc lợi xã hội như sau: Thứ nhất, việc sử dụng các biện pháp phúc lợi để hỗ trợ hoặc củng cố gia đình như một thiết chế xã hội cơ bản mà qua đó các nhu cầu được đáp ứng.
Các biện pháp phúc lợi xã hội này bao gồm việc làm tăng lên sự hạnh phúc và lợi ích của một số lượng lớn người bao gồm các nhu cầu về thé chat, tinh thần, tình cam, tâm linh và kinh tế của các thành viên trong gia đình. Thứ hai, cac biện pháp phúc lợi có mục đích tăng cường năng lực của ca nhân dé đối phó với hoàn cảnh cuộc sống của mình. Hệ thống phúc lợi xã hội có mục tiêu là tạo ra những điều kiện cơ bản cho phép tất cả các thành viên của cộng đồng nhận ra tiềm năng phát triển và tự hoàn thiện ban thân. Với bất kê khuyết tật về tâm ly hoặc xã hội nao, con người cần được tạo điều kiện để sông, làm việc và phát triển trong một môi trường bình thường.
Phân biệt phúc lợi xã hội và an sinh xã hội Bên cạnh thuật ngữ phúc lợi xã hội, hiện nay còn có thuật ngữ an sinh xã hội. Thuật ngữ này tương đương với cụm từ social security. Thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp hơn thuật ngữ phúc lợi xã hội (social welfare). Theo Ngân hàng Thế giới (WB): An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tinh dễ bị tổn thương và những bap bênh thu nhập [3].
Theo quan niệm của Té chức Lao động quốc tế (ILO): An sinh xã hội là hình thức bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dung rộng rãi dé đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mat hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mắt sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em [3]. Ở Việt Nam, mặc dù an sinh xã hội là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về van đề này. "Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận: An sinh xã hội là sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các nguy cơ, rủi ro có thé dẫn đến suy giảm hoặc mắt đi nguồn sinh kế [3]. Bản chất của an sinh xã hội là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mắt thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã hội khác.
Chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và nhân đạo sâu sắc. Cần phải phân biệt giữa nội hàm cơ bản của hệ thống an sinh xã hội (chỉ chăm lo cho một số đối tượng khó khăn) với nội hàm đầy đủ của khái niệm phúc lợi xã hội (chăm lo cho toàn dân).