Chương 1: Nhắc lại một số khái niệm cơ bản về phụ thuộc hàm và quan hệ Armstrong. Chương 2: Mục đích của chương này là trình bày nghiên cứu quan hệ Armstrong đối với phụ thuộc mạnh. Có thể nói, trong nghiên cứu về các ràng buộc dữ liệu nói chung và phụ thuộc mạnh nói riêng, khái niệm bao đóng của tập thuộc tính thật sự đóng một vai trò quan trọng. Kết quả chính là trình bày một số nghiên cứu về quan hệ Armstrong.
Đầu tiên, khái niệm họ các tập tối tiểu của thuộc tính của một sơ đồ mạnh được đề xuất. Đây là khái niệm đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng quan hệ Armstrong của sơ đồ mạnh Cuối cùng, luận văn đề cập đến bốn bài toán quan trọng đối với việc nghiên cứu cấu trúc và lôgic của họ phụ thuộc mạnh: bài toán xây dựng quan hệ Armstrong của một sơ đồ mạnh cho trước, bài toán xây dựng sơ đồ mạnh đúng trên một quan hệ cho trước, bài toán kéo theo phụ thuộc mạnh-quan hệ và bài toán tương đương phụ thuộc mạnh-quan hệ. Tất cả các bài toán này được chứng tỏ có thể được giải quyết bằng các thuật toán thời gian đa thức. Chương 3: Cài đặt chương trình để minh họa phụ lý thuyết phụ thuộc mạnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ viii BẢNG CÁC KÍ HIỆU Trong luận văn, có sử dụng các quy ước về kí hiệu và chữ viết tắt sau: S=(U,F): Sơ đồ quan hệ, với U là tập các thuộc tính và F là tập các phụ thuộc hàm trên U G=(U,S): Sơ đồ mạnh, với U là tập thuộc tính và S là tập các phụ thuộc mạnh trên U. R: quan hệ trên tập thuộc tính U. FR: (tương ứng SR) tập tất cả các phụ thuộc hàm (tương ứng phụ thuộc mạnh) đúng trên quan hệ R. Ka: họ các tập tối tiểu của thuộc tính a.
R : (tương ứng NR) hệ bằng nhau (tương ứng không bằng nhau) quan hệ của R. IS: họ các tập độc lập tối tiểu của sơ đồ quan hệ s. CSDL: cơ sở dữ liệu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ ix BẢNG CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1: Phụ thuộc hàm.2 : Tương quan giữa lớp quan hệ với lớp phụ thuộc hàm.3 : Tương quan giữa lớp phụ thuộc hàm với lớp hàm đóng.4 : Lớp các dạng chuẩn.5 : Tương quan giữa họ phụ thuộc hàm với hệ Sperner.6 : Tương quan lớp các hàm đóng với hàm chọn đặc biệt.7 : Tương quan giữa lớp các hàm đóng và nửa dàn giao.8 : Tương quan giữa lớp các nửa dàn giao và tập không giao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 1 Chƣơng 1: PHỤ THUỘC HÀM Khái niệm phụ thuộc hàm được đề xuất bởi E.Codd và sau đó lần đầu tiên được tiên đề hoá bởi W. Đây là một loại ràng buộc dữ liệu xảy ra tự nhiên nhất giữa các tập thuộc tính, về cơ bản các hệ quản trị cơ sở dữ liệu lớn đều sử dụng phụ thuộc này.1 Định nghĩa Cho U là tập hữu hạn khác rỗng các thuộc tính. Một phụ thuộc hàm làmộtmệnh đề có dạng X Y, trong đóX, Y U. Ta nói phụ thuộc hàm X Y đúngtrong quan hệ R={h1,.,hm} trên U nếu: ( hi,hj R)(( a X)(hi(a)=hj(a)) ( b Y)(hi(b)=hj(b))) Ta cũng nói rằng R thỏa phụ thuộc hàm X Y.
Gọi FR là họ tất cả các phụ thuộc hàm đúng trên quan hệ R. Ta có thể nhận thấy rằng X mà phụ thuộc hàm vào Y, nếu hai dòng bất kỳ mà các giá trị của tập thuộc tính X mà bằng nhau từng cặp một, thì kéo theo các giá trị trên tập thuộc tính Y cũng phải bằng nhau từng cặp một. Với định nghĩa này dễ thấy rằng trong các file dữ liệu cột, mã số hoặc thứ tự không thể bằng nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 2 Ví dụ:Một cửa hàng cần quản lý về các loại mặt hàng mà họ bán ra.
Giả sử mỗi loại hàng có một mầu duy nhất và một giá duy nhất. Khi đó kí hiệu hàng hóa (KIHIEU) xác định hàm màu (MAU) và đơn giá (DONGIA) của loại hàng đó. Trong trường hợp đơn giản đó, ta có tập thuộc tính U = {KIHIEU, MAU, DONGIA} và tập các phụ thuộc hàm F = {KIHIEU MAU, KIHIEU DONGIA}. R KIHIEU MAU DONGIA S KIHIEU MAU DONGIA A1 Xanh 10 A1 Xanh 10 A2 Vàng 20 A2 Vàng 20 B1 Đỏ 30 A1 Đỏ 10 (a) (b) Hình 1.
Phụ thuộc hàm.1(a) mô tả quan hệ r thỏa F vì nó thỏa cả hai phụ thuộc hàm của F.1(b), quan hệ s mặc dù thỏa phụ thuộc hàm KIHIEU DONGIA. Tuy nhiên, s không thỏa KIHIEU MAU vì nó chứa hai bộ bằng nhau trên KIHIEU(“A1”) nhưng không bằng nhau trên MAU (“Xanh” và “Đỏ”) do đó nó không thỏa F. Tất cả nhưng quan hệ thỏa F như r lập thành lược đồ quan hệ R(U) = (U, F). Trong ví dụ này, rõ ràng mọi quan hệ thỏa F đều thỏa (KIHIEU MAU DONGIA) nên phụ thuộc hàm này là được suy diễn từ F hay F = (KIHIEU MAU DONGIA).
Khái niệm phụ thuộc hàm miêu tả một loạt ràng buộc (phụ thuộc dữ liệu) xảy ra tự nhiên nhất giữa các tập thuộc tính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.2 Hệ tiên đề Arsmtrong Năm 1974, Armstrong đã chỉ ra được bốn đặc trưng cho một tập phụ thuộc hàm của một file dữ liệu nào đó. Chúng được gọi là hệ tiên đề Armstrong Giả sửU là tập hữu hạn khác rỗng các thuộc tính và X,Y,Z,V,W U. Ta nói F là một f - họ hay họ đầy đủ trên U nếu: F1. Rõ ràng FR là một - họ trên U.Armstrong đã chứng minh một kết quả rất quan trọng: nếu F là một họ bất kỳ, thì luôn tồn tại một quan hệ R trên U sao cho FR = F.
Kết quả này cùng với định nghĩa của phụ thuộc hàm chứng tỏ rằng hệ tiên đề Armstrong là đúng đắn và đầy đủ. Có nghĩa là bốn tính chất (Fl)-(F4) đúng là các đặc trưng của họ phụ thuộc hàm. Nhờ có hệ tiên đề này từ nay trở đi nghiên cứu và khảo sát họ phụ thuộc hàm không bị lệ thuộc vào các quan hệ (bảng) cụ thể. Các công cụ của toán học được áp dụng để nghiên cứu làm sáng tỏ cấu trúc lôgic của mô hình dữ liệu quan hệ.
Đặc biệt, sử dụng công cụ thuật toán để thiết kế các công đoạn xây dựng các hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Ví dụ chỉ ra có nhiều quan hệ khác nhau xong các họ đầy đủ các phụ thuộc hàm của chúng lại như nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Cho R1 và R2 là các quan hệ sau: a b a B 0 0 0 0 R1 1 1 R2 1 1 2 1 2 1 3 2 3 1 Có thể thấy r1 và r2 khác nhau nhưng Fr1 = Fr2. Như vậy, tương quan giữa lớp các quan hệ với lớp các họ phụ thuộc hàm có thể được thể hiện bằng hình vẽ sau.
Lớp các quan hệ Lớp các phụ thuộc hàm Hình1.2 : Tương quan giữa lớp quan hệ với lớp phụ thuộc hàm 1.3 Bao đóng của tập phụ thuộc hàm và tập thuộc tính Ta gọi sơ đồ quan hệ s là một cặp (U,F) trong đó U là tập hữu hạn khác rỗng các thuộc tính vàF là tập các phụ thuộc hàm trên U. Như vậy khi cho một sơ đồ quan hệ có nghĩa ta cho một đầu biểu gồm nhiều cột, nhưng không có dữ liệu và áp đặt các các ràng buộc giữa các tập cột (bằng việc cho phụ thuộc hàm). Sự thật việc cho các ràng buộc này phải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 tuân theo nghĩa của các cột. Khi đóbao đóng của tập phụ thuộc hàm F, ký hiệu F+, được định nghĩa là tập tất cả các phụ thuộc hàm được dẫn xuất từ F bằng cách áp dụng các quy tắc từ (F1)-(F4).
Ta thấy có một tương ứng 1-1 giữa lớp các hàm đóng và lớp các họf ,có hình vẽ sau Lớp các họ phụ thuộc hàm Lớp các hàm đóng Hình 1.3 : Tương quan giữa lớp phụ thuộc hàm với lớp hàm đóng Trong [4] W.Armstrong đã chứng minh rằng nếu s = (U, F) là một sơ đồ quan hệ thì luôn tồn tại một quan hệ R trên U sao cho FR = F+.Một quan hệ R như vậy được gọi là quan hệ Armstrong của s. Trong trường hợp này hiển nhiên các phụ thuộc hàm của s đều đúng trên R. Gọi X là tập con thuộc tính của U. Khi đó X+ được gọi là bao đóng của tập thuộc tính X trên s.
Bài toán xác định bao đóng X+ có độ phức tạp là đa thức theo kích thước của s(D. Do đó, bài toán thành viên đối với sơ đồ quan hệ (nghĩa là cho sơ đồ quan hệ s=(U, F) và phụ thuộc hàm X Y, kiểm tra xem X Y có thuộc F+ hay không) có thể được giải quyết bằng một thuật toán thời gian đa thức (D. Đối với quan hệ R trên tập thuộc tính U, ta đặt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 XR+={a U|X {a} FR}. Khi đó, XR+ được gọi bao đóng của tập thuộc tính X trên R.
Bài toán xác định bao đóng XR+ cũng có độ phức tạp là đa thức theo kích thước của R(Vũ Đức Thi [25]). Lưu ý rằng, khi bàn về phụ thuộc hàm thì quan hệ R được xét là quan hệ của một sơ đồ quan hệ s = (U, F) nào đó, nghĩa là tập thuộc tính của R là U và R thoả mọi phụ thuộc hàm của F. Dưới đây là một số tính chất cơ bản của bao đóng của tập thuộc tính trên sơ đồ quan hệ (trên quan hệ vẫn còn đúng). Các tính chất này có thể tìm thấy trong[2].
[2]Giả sử s = (U, F) là một sơ đồquan hệ và X,Y U. Tính phản xạ: X X+. Tính đơn điệu: nếu X Y thì X+ Y+. X Y F+ khi và chỉ khi Y X+.
X Y F+ khi và chỉ khi Y+ X+. X+ = Y+ khi và chỉ khi X Y F+ và Y X F+. Trong phần này cùng giới thiệu thêm khái niệm phủ (D. Tập phụ thuộc hàm F được gọi là một phủ của tập phụ thuộc hàm G nếu F+ = Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
Phủ F được gọi là không dư thừa nếu với mọi phụ thuộc hàm X Y F thì X Y (F-{X Y})+. Phủ F được gọi tốitiểu nếu |F|≤|F’| với mọi phủF’.4 Khoá tối tiểu của sơ đồ quan hệ và quan hệ Cho s =(U, F) là một sơ đồ quan hệ, R là một quan hệ và K là một tập con thuộc tính của U.