CHƯƠNG 1. TONG QUAN CHUNG BON TRUNG CUU LONG VA ĐẶC DIEM DIA CHAT MO HOA MAI 1. Dac điểm dia lý tự nhiên khu vực mỏ 1. Vị trí địa lý và kinh tế Mỏ Hoa Mai năm ở phía Đông Lô 02/97 trong bổn trũng Cửu Long cách thành phố Vũng Tàu khoảng 160 km về phía Dong, nơi có độ sâu nước biến xấp xi 70 mét.
Bồn trũng Cửu Long thuộc chủ yếu thêm lục dia Nam Việt Nam và một phan dat liền thuộc khu vực của sông Cửu Long. Bồn trũng có hình bau dục, vồng về phía biển, kéo dài từ bờ biển Phan Thiết đến cửa sông Hậu. Về tọa độ địa lý, bồn được giới hạn từ 90° đến 110° vĩ Bắc và từ 106”30° đến 109° kinh Đông. Về quy mô, bồn có diện tích khoảng 56.000 km”, trong đó chiều dài của bồn khoảng 400km theo hướng Đông Bắc — Tây Nam và chiều rộng của bổn khoảng 50-75 km theo hướng Tây Bắc — Đông Nam.
VỀ mặt ranh giới, phía Tây Bắc tiếp giáp với đất liền, phía Đông Nam ngăn cách với bồn Nam Côn Sơn bởi đới nâng Côn Sơn, phía Đông Bắc là đới cắt trượt Tuy Hòa ngăn cách với bồn Phú Khánh, và phía Tây Nam tiếp giáp với đới nâng Khorat- Natuna. Theo tài liệu phân lô thì diện tích của bồn Cửu Long chủ yếu bao gồm các Lô 09, 15, 16, 17 và một phần các lô 01, 02. Trong bồn có các mỏ lớn đã và đang được nghiên cứu khai thác như: mỏ Bạch Hỗ, Rồng, Rang Đông, Ruby, Sư Tử Den, Sư Tử Vang, Sư Tử Nau, Cá Ngừ Vàng. và một số mỏ khác đang thấm lượng chuẩn bị phát triển như: Emerald, Kình Ngư Trắng, Kình Ngư Vàng.
dưới sự đầu tư của các xí nghiệp liên doanh, các công ty điều hành chung, các công ty liên doanh phân chia sản phẩm như: VietsovPetro, Hoàng Long Hoàn Vũ, Thăng Long, Petronas, JVPC, Công ty TNHH MTV điều hành thăm dò khai thác dầu khí (PVEP-POC). Dac diém tu nhién Vẻ khí hậu: Nhìn chung khu vực mỏ nằm trong phông chung của bồn Cửu Long với khí hậu đặc trưng là nóng do vị trí của bồn gần với xích đạo. Ở khu vực này có sự phân ra thành 2 mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 và HVTH: Nguyễn Quốc Thăng 6 M6 tả diện phân bo tướng của tram tích Oligoxen dưới, mỏ Hoa Mai mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình của khu vực này vào mùa khô khoảng trên 30°C và mùa mua là 26-27°C.
Về lượng mưa trung bình vào khoảng 120-300 cm/năm. Tuy nhiên trong các mùa mưa lũ thì lượng mưa cao hơn gâp nhiêu lần. Chế độ gió: Từ tháng 11 đến 4, hướng gió chủ yếu là hướng Đông Bắc va Bắc — Đông Bắc. Sau đó vào tháng 12 và tháng giêng thì hướng gió chủ yếu là Đông Bắc.
Vận tốc ØIÓ VàO đầu mùa thì nhỏ và sau đó tăng dần lên, đạt cực đại vào tháng 2. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 1,5 m/s, cực đại có thé lên đến 12,5 m/s. Từ tháng 5 đến 10 chế độ gió chịu sự ảnh hưởng bởi hệ thống gió mùa HVTH: Nguyễn Quốc Thăng 7 M6 tả diện phân bo tướng của tram tích Oligoxen dưới, mỏ Hoa Mai Tây Nam, do đó hướng gió chủ yếu là Tây Nam và Tây — Tây Nam. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 8,8 m/s, cực đại có thé lên đến 32 m/s.
Về chế độ dòng chảy thì khu vực thuộc bổn trũng có nhiều dòng chảy khác nhau do ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động khác nhau như: thủy triều, địa hình đáy, khối lượng nước, nhiệt độ, chế độ gid,. Vận tốc dòng chảy trung bình, biển động nhẹ, gió giật trung bình cấp 4— 5, vận tốc dòng xoáy ở mức trung bình. Chế độ sóng trong khu vực b6n trũng cũng chia ra làm 2 kiểu phụ thuộc vào 2 mùa trong năm: từ tháng 5 đến tháng 10, hướng sóng chủ yếu là hướng Tây Nam. biên độ thấp và 6n định, trung bình vào khoảng 0,5 -2 m, cực đại có thể đạt đến 5m.
từ tháng 11 đến 4 hướng gió là Đông Bắc va Bắc — Đông Bắc, sóng có biên độ từ 2 — 4m, đôi khi lên đến 6 -8m. Về mặt giao thông thì tinh Bà Rịa — Vũng Tàu có đường giao thông thuận lợi cho công tác tìm kiếm — thăm dò và khai thác dầu khí, cụ thể: Đường bộ: có quốc lộ 51 nối liền Tp.Vũng Tàu với Tp.Hồ Chí Minh. Hơn nữa chất lượng đường giao thông rất tốt. Đường thủy: Dài 80 km nối liền cảng Vũng Tàu với cảng Sài Gòn.
Cảng Vũng Tau là một cảng lớn có thé chứa và vận chuyển được khối lượng hàng hóa thiết bị lớn, đáp ứng tốt được công tác cung cấp thực phẩm, vận chuyên thiết bi cho giàn khoan ra khơi. Đường hàng không: sân bay Vũng Tàu có thể tiếp nhận các loại máy bay AN-24, AN-28 và các loại trực thăng. Sân bay đảm nhận công tac đưa đón cán bộ hoạt động trong lĩnh vực dau khí giữa đất liền và giàn khoan biến. Ngoài ra, sân bay cũng đảm nhận chức năng vận chuyển hàng hóa ra giàn khoan và các dịch vụ khác theo yêu cầu.
Đặc điểm dia chat dầu khí của bén trũng Cửu Long 1. Lịch sử nghiên cứu địa chất dau khí của bồn trũng Cửu Long Lich sử nghiên cứu dia chat cua bon tring Cửu Long gan liên với lịch sử tìm HVTH: Nguyễn Quốc Thăng S M6 tả diện phân bo tướng của tram tích Oligoxen dưới, mỏ Hoa Mai kiếm — thăm dò và khai thác dầu khí của bồn trũng. Lịch sử nghiên cứu bồn trũng Cửu Long có thể được chia thành bốn giai đoạn: s* Giai doan trước năm 1975 Đây là giai đoạn khảo sát địa vật lý khu vực như từ, trọng lực và địa chân chủ yếu dé phân chia lô phục vụ cho công tác dau thâu, ký hợp đồng dau khí. Trong giai đoạn này thì có công ty, tổ chức tiễn hành đo đạc như: US Navy Oceanographic Office (1967), Alpine Geophysical (1967 — 1968) và Ray Geophysical Mandrel (1969).
Cac tô chức trên đã lần lượt tiễn hành do dia vật lý và địa chan trên toàn bộ lãnh thô Nam Việt Nam sau đó tiễn hành do ngoài khơi biên Đông trong đó có các tuyến do cắt qua bén trũng Cửu Long. Năm 1973 — 1974 Việt Nam t6 chức dau thầu, và trong năm 1974 công ty Mobil đã trúng thầu trên lô 09. Cuối năm 1974 đầu năm 1975 thì công ty Mobil tiền hành khoan giếng tìm kiếm dau tiên trong bồn trũng Cửu Long (BH - 1X). s*% Giai đoạn 1975 — 1979 Nam 1976 có công ty địa vật lý CGG (Compagnie Generale de Geophysique-Veritas) của Pháp đã tiến hành khảo sát vùng đồng bằng sông Cửu Long và ven biển Vũng Tàu — Côn Sơn.
Kết quả khảo sát đã cho phép xây dựng các tầng phản xạ chính CL20 đến CL80, qua đó khang định sự có mặt của bồn Cửu Long với trầm tích Đệ Tam. Năm 1978, công ty Geco của Nauy tiễn hành thu nỗ địa chan 2D trên các lô của bồn trũng Cửu Long và làm chỉ tiết trên cau tao Bạch Hỗ. Ngoài ra, công ty Deminex đã hợp đồng với Geco thu nỗ địa chan trên lô 15 và cấu tạo Cửu Long (nay là cau tạo Rang Đông). Theo như kết quả khoan tìm kiếm của Deminex trên các cau tạo triển vọng nhất thì chi phát hiện dầu khí chứ không có dòng dầu công nghiệp.
s*% Giai đoạn 1980 — 1988 Trong giai đoạn này thi công tác tìm kiếm thăm dò mở rộng, trong đó phải kế đến sự có mặt của xí nghiệp liên doanh Vietsopetro. Năm 1980, tàu POISK tiến HVTH: Nguyễn Quốc Thăng 9 M6 tả diện phân bo tướng của tram tích Oligoxen dưới, mỏ Hoa Mai hành do địa chan và kết quả là đã phân chia chi tiết các tập địa chan của bồn trũng Cửu Long. Sau đó trong các năm từ 1981 đến 1984 thì các tàu nghiên cứu khác đã tiễn hành khảo sát địa vật lý — địa chân rộng hơn và nghiên cứu phan sau hon cua bồn Cửu Long. Trong thời gian này, Vietsopetro cũng tiễn hành khoan 4 giếng trên cau tạo Bach Hô và Rong.
Cuối gian đoạn đánh dấu bang việc Vietsopetro đã khai thác những tan dau đầu tiên từ hai đối tượng Mioxen và Oligoxen dưới năm 1986 và đặc biệt quan trong là vào 1988 họ đã phát hiện dau trong đá móng nứt nẻ granit. % Giai đoạn 1989 đến nay Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của công nghiệp dầu khí, đặc biệt là ở bồn tring Cửu Long với sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài và Luật dầu khí. Qua đó đã có hàng loạt các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo hình thức phân chia sản phẩm hay cùng hợp tác đầu tư. Từ đó đến nay đã có rất nhiều hợp đồng tìm kiếm thăm dò được ký kết.
Tham gia vào giai đoạn sôi nỗi này là các công ty dịch vụ địa vật lý giàu kinh nghiệm trên thế giới như: CGG (Compagnie Generale de Geophysique- Veritas), Geco — Prakla, Western Geoco,. Hau hết các lô thuộc phạm vi bồn đã được nghiên cứu tỉ mỉ phục vụ cho công tac mô hình hóa thân dầu. Song, đó là việc khảo sát địa chấn 3D trên hầu hết các vùng triển vong. Đến nay, SỐ lượng giếng khoan ở bổn trung Cửu Long lên đến con số 400, trong đó Vietsopetro chiếm trên 70% số giếng.
Bằng kết quả khoan đã phát hiện được các mỏ như: Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Ruby, Cá Ngừ Vàng, Tê Giác Trắng. đang khai thác với sản lượng cao. Khái quát về cơ chế thành tạo và phát triển địa chất bồn tring Cửu Long 1. Khái quát co chế thành tạo của bồn trũng Cửu Long Bôn trũng Cửu Long là bôn thuộc loại tương đôi nhỏ nhưng bôn lại có vai trò quan trọng nhât vê tiêm năng dâu khí đôi với Việt Nam.
Bôn có ranh giới rõ ràng với các đơn vị kiên tạo xung quanh. HVTH: Nguyễn Quốc Thăng 10 M6 tả diện phân bo tướng của tram tích Oligoxen dưới, mỏ Hoa Mai Bồn trũng Cửu Long là bổn trũng kiểu rift nội lục điển hình, căng giản theo cơ chế tạo bồn trũng sau cung do thay đối tốc độ chuyển động thúc trồi xuống Đông Nam của địa khối Kon Tum trong suốt Oligoxen muộn đến cuối Mioxen sớm (Hình 1. Bồn trũng đã trải qua hai pha căng giãn. Pha căng giãn thứ nhất vào Eoxen (?) — Oligoxen sớm, ứng với thời kỳ hình thành bổn trũng.