CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐIỆN NĂNG VÀ ỔN ĐỊNH ĐIỆN ÁP TRONG LƯỚI ĐIỆN 1. Một số khái niệm Có nhiều định nghĩa về ổn định điện áp của các nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu trên thế giới. Đối với mỗi hệ thống điện của mỗi quốc gia khác nhau việc duy trì điện áp ở mức chấp nhận được sẽ khác nhau dựa vào quy định và kinh nghiệm vận hành của từng nước.
Việc duy trì điện áp ở mức chấp nhận được cũng sẽ tuỳ thuộc vào quy định ở mỗi nước và dựa vào kinh nghiệm vận hành. Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất với quan điểm của Carson. Taylor, phân tích ổn định điện áp, cũng như xây dựng phương pháp nghiên cứu, đề xuất chỉ số, hệ số phù hợp nhằm đánh giá, đề xuất biện pháp nâng cao ổn định điện áp trong lưới điện phân phối. Trong thực tế, vấn đề về ổn định điện áp còn có thể được chia thành các vấn đề nhỏ hơn, tương ứng là ổn định điện áp khi có kích động lớn và khi có dao động nhỏ.
Ổn định điện áp khi xuất hiện kích động lớn: là khả năng của hệ thống điện vẫn còn duy trì được các giá trị điện áp ổn định sau khi có kích động lớn. Ổn định điện áp khi có kích động nhỏ: là khả năng của hệ thống điện vẫn còn duy trì được điện áp ổn định khi chịu các tác động nhỏ, Với các giả thiết thích hợp, các phương trình của hệ thống có thể được tuyến tính hóa xung quanh điểm làm việc để phân tích và do đó cho phép tính toán được thông tin độ nhạy rất hữu ích trong việc nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến ổn định điện áp, do vậy vấn đề này còn được phân chia thành hiện tượng ngắn hạn và dài hạn. - Ổn định điện áp ngắn hạn liên quan đến tính chất động của các thành phần tải tác động nhanh, chẳng hạn như: động cơ cảm ứng, tải điều khiển điện tử 12 và các bộ biến đổi HVDC. Trường hợp này thời gian nghiên cứu cần đến một vài giây và các kỹ thuật và việc phân tích yêu cầu phải giải các phương trình vi phân - Ổn định điện áp dài hạn liên quan đến các thiết bị tác động chậm hơn, chẳng hạn, OLTC, tải nhiệt điều khiển tĩnh, và các bộ giới hạn kích từ (OEL).
Sự mất ổn định điện áp: xuất phát từ các thay đổi của tải tiêu thụ công suất vượt quá khả năng của hệ thống truyền tải và hệ thống nguồn. An ninh điện áp Khái niệm an ninh điện áp là khả năng của một hệ thống điện không những vận hành trong trạng thái ổn định, mà còn duy trì trạng thái ổn định sau khi gặp các sự cố ngẫu nhiên hoặc khi phụ tải tăng. Hiện tượng mất ổn định điện áp trong hệ thống điện Mất ổn định điện áp là hiện tượng sụt giảm điện áp liên tục hoặc quá trình điện áp tăng cao liên tục khi cố gắng phục hồi công suất phụ tải vượt quá giới hạn khả năng của hệ thống nguồn phát điện và lưới điện truyền tải. Công suất tải lớn nhất Một trong những nguyên nhân đầu tiên của mất ổn định hệ thống điện là do truyền tải lượng công suất quá lớn trên các đường dây.
Trong vấn đề ổn định điện áp cũng cần chú ý đến sự truyền tải công suất giữa nguồn phát và các phụ tải lớn. 1 Sơ đồ hệ thống điện đơn giản 13 (UT/UN) (PX/UN2) (QX/UN2) Hình 1. 2 Đồ thị điện áp theo công suất tác dụng và phản kháng Trong không gian (P, Q, UT), cho thấy sự thay đổi của điện áp nút tải và công suất phụ tải như hình Ứng dụng các thiết bị bù công suất phản kháng. Độ dự trữ ổn định điện áp phụ thuộc vào sự lựa chọn phù hợp dung lượng và vị trí của các thiết bị bù công suất phản kháng.
Sa thải phụ tải theo điện áp thấp. Để ngăn ngừa các tình huống ngoài dự kiến, cần thiết sử dụng các sơ đồ sa thải phụ tải theo điện áp thấp. Các kịch bản sụp đổ điện áp Kịch bản 1: Tải tăng từ từ (sụp đổ điện áp trong khoảng thời gian dài hạn) Trong kịch bản này, các yếu tố chính gây ra sự sụp đổ điện áp là: - Tính cứng (không linh hoạt) của đặc tính tải tiếp tục đòi hỏi các giá trị cao của công suất tác dụng và phản kháng khi điện áp thấp ở vùng tải. - Điều khiển OLTC trên mạng phân phối và truyền tải trung gian để cố gắng duy trì điện áp không đổi, và do đó yêu cầu công suất tác dụng và phản kháng cao trong khi điện áp nguồn bị hạ thấp.
14 - Do các giới hạn trường và dòng điện cảm ứng, nhu cầu tải công suất phản kháng cao có thể làm cho các máy phát mất khả năng điều chỉnh điện áp. Khi đó, máy phát hoạt động giống như nguồn điện áp phía điện kháng đồng bộ và điện áp đầu cực giảm đi. - Sự sụp đổ điện áp do sự tăng dần tải có thể có nguyên nhân là một số hoặc tất cả các yếu tố trên. Tính chất động của các thiết bị điều khiển điện áp khác nhau (máy phát, thiết bị bù, và máy biến áp) có thể tương tác theo cách mà sự sụt áp thực tế khác với dự đoán khi chỉ xét các điều kiện tĩnh.
Kịch bản 2: Mất một số phần tử trong hệ thống điện Thực tế cho thấy các tham số hệ thống điện đóng vai trò quan trọng khi xác định công suất cực đại có thể được phân phối đến các khu vực tải. Việc ngắt một trong số các đường dây trong hệ thống truyền tải sẽ làm tăng điện kháng tương đương giữa nguồn điện áp tương đương và tải, làm giảm công suất tới hạn và tăng xác suất sụt áp. Kịch bản 3: Hiện tượng bên trong tải phức hợp Đáp ứng động của tải phức hợp có thể làm cho các đặc tính tải động và tĩnh khác nhau. Sự khác nhau này chủ yếu là do các động cơ cảm ứng và có thể dẫn đến giảm tính ổn định hệ thống và cuối cùng dẫn đến sụp đổ điện áp.
Chẳng hạn, sự giảm điện áp nhanh và nghiêm trọng xảy ra trong quá trình loại trừ sự cố ngắn mạch chậm có thể dẫn đến mô men của động cơ giảm và sau đó là “kẹt động cơ”. Khi động cơ bị “kẹt”, Kịch bản 4: Sụt áp và hoạt động không đồng bộ Sự sụp đổ điện áp trên một hoặc một số nút của hệ thống điện có thể làm cho điện áp hạ xuống ở các nút lân cận dẫn đến sụt áp ở các nút này. Đảm bảo chất lượng điện áp và ổn định phụ tải trong lưới điện phân phối 15 Chất lượng điện áp trong lưới điện phân phối là một chỉ tiêu quan trọng, luôn phải được quan tâm và đảm bảo từ khâu thiết kế đến vận hành. Có các chỉ tiêu khác nhau được đặt ra để đánh giá, kiểm tra chất lượng điện áp cho lưới điện, đồng thời trên cơ sở đó đề ra các biện pháp đảm bảo).
Các phương pháp xác định giới hạn ổn định điện áp nút trong hệ thống điện 1. Phân tích đường cong quan hệ công suất tác dụng và điện áp Quan hệ giữa công suất tác dụng và điện áp nút tải có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu ổn định điện áp. N T HT Z UT UN Hình 1. 3 Mạng điện 2 nút Xuất phát từ hình 1.4, phương trình công suất viết cho nút T có dạng [5]: AU T2 U .U HT T ( ) PT jQT (1.1) B B Ở đây A A ; B B là các hằng số tương đương của mạng điện.
4 Biểu đồ pha điện áp và biểu đồ công suất 16 Do nút T có góc hệ số công suất chậm pha hơn so với nút N nên từ sơ đồ hình 1.6 có thể biểu diễn sơ đồ vectơ như hình Hình 1. 5 Biểu đồ vectơ trên mặt phẳng công suất Phân tích đường cong quan hệ công suất phản kháng và điện áp (QV) Hình 1. 6 Sơ đồ đơn giản vẽ đường cong QV Công suất cuối đường dây tại nút tải có giá trị: S P j Q QC U T I. * Khai triển phương trình này ta có: U N 0 U T * U N U T U T 2 0 U N U T sin U N U T cos U T 2 S U T j (1.2) jX * jX X X Như vậy ta có các phương trình quan hệ tương ứng là: 17 U NU T P sin ; (1.3) X 2 UT U U Q QC N T cos (1.4) X X 2 QC X UT UT QX Hay: 2 2 .5) UN UN UN UN QCX/UN 2 UT/UN Hình 1.
7 Đường cong QV ở các chế độ vận hành khác nhau 1. Phương pháp xác định khoảng cách nhỏ nhất dẫn đến mất ổn định điện áp trên mặt phẳng công suất Khoảng cách đến mất ổn định điện áp nhỏ nhất bình thường được xác định bằng phương pháp tăng tải theo một cách xác định là: lựa chọn kịch bản nặng nề nhất dựa trên các dữ liệu vận hành và dự báo phụ tải (phương pháp MVA nhỏ nhất). Nội dung của phương pháp này là: xác định một bộ thông số công suất tác dụng và phản kháng của phụ tải có thể truyền tải tăng thêm trong hệ thống mà hệ thống vẫn đảm bảo vận hành ổn định khi cho trước điều kiện ban đầu. Hay nói cách khác là xác định khoảng cách nhỏ nhất từ điểm vận hành ban đầu đến điểm giới hạn ổn định điện áp, ứng với ma trận Jacobi bị suy biến.
Một hệ thống điện bất kỳ đều tồn tại miền ổn định trên mặt phẳng công suất truyền tải (P, Q). Các bước thực hiện 18 chung để xác định khoảng cách nhỏ nhất từ mức tải ban đầu đến đường giới hạn ổn định S của hệ thống bao gồm (hình 3. Tăng tải từ giá trị (P0, Q0) theo vài hướng cho đến khi có một giá trị riêng của ma trận Jacobi gần bằng 0. Mức tải (P1, Q1) tương ứng với điểm này là giới hạn ổn định.
Điểm P1, Q1 xem như nằm trên đường cong S. Với các điều kiện tại P1, Q1 xác định vectơ riêng bên trái của ma trận Jacobi đầy đủ. Vectơ riêng bên trái chứa phần tử tác động đến sự gia tăng của phụ tải cho mỗi nút. Vectơ riêng chỉ rõ hướng ngắn nhất dẫn đến duy nhất, nghĩa là vuông góc với S.