Chương 1 của luận án hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản về nhận dạng thực thể. Chương này được cấu trúc thành bốn phần nội dung chính. Phần 1 trình bày và phân tích các khái niệm cơ bản và các thuật ngữ cần quan tâm trong lĩnh vực nghiên cứu, ngoài các định nghĩa, phần này cũng khái quát hóa các độ đo thường được sử dụng trong nhận dạng thực thể. Phần 2 nêu ra một số hướng tiếp cận giải quyết chính cũng như một số hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu về nhận dạng thực thể.
Các hướng tiếp cận này sẽ được nêu ra trong hai phần, tương ứng với từng loại dữ liệu là dữ liệu văn bản tiếng Anh và dữ liệu văn bản tiếng Việt. Phần 3 trình bày cụ thể một số kỹ thuật học máy tiêu biểu thường được sử dụng trong nhận dạng thực thể cũng như trong các nghiên cứu của luận án. Cuối cùng, phần 4 nêu ra tiềm năng nghiên cứu và điểm qua một vài ứng dụng nổi bật của nhận dạng thực thể. Một số khái niệm cơ bản 1.
Định nghĩa bài toán nhận dạng thực thể Bài toán nhận dạng thực thể (hay còn gọi là bài toán nhận dạng thực thể định danh; Named Entity Recognition; NER) là bài toán xác định (phát hiện) các biểu diễn trong văn bản và phân lớp chúng vào các kiểu thực thể định danh được định nghĩa trước như Người, Địa danh, Thời gian, Số, tiền tệ, v. Bài toán này có thể bao gồm cả việc nhận dạng các thông tin hay thuộc tính mô tả về thực thể. Ví dụ, trong trường hợp của thực thể tên người, hệ thống NER có thể trích xuất cả các thông tin về Chức danh, Quốc tịch, Địa chỉ, Giới tính, v. Một thực thể định danh là một chuỗi các từ chỉ đến một thực thể trong thế giới thực, ví dụ như "California", “Hà Nội”, “Võ Nguyên Giáp”, "Steve Jobs" và "Apple".
Một thực thể định danh có thể được xếp vào một loại thực thể nào đó, như Người, Địa điểm, Tổ chức, Thời gian, v. Như vậy, các thực thể chính là nhữ ng đố i tươṇ g cơ bản nhất trong mô ̣t văn bản dù ở bấ t kì ngôn ngữ nào. 17 Luận án sử dụng định nghĩa bài toán nhận dạng thực thể do Aggarwal và Zhai phát biểu [AZ12]: “Bài toán nhận dạng thực thể (Named entity recognition, NER) là bài toán xác định thực thể định danh từ các văn bản dưới dạng tự do và phân lớp chúng vào một tập các kiểu được định nghĩa trước như người, tổ chức và địa điểm.” Các kiểu thực thể định danh không chỉ bao gồm một số kiểu thông dụng như tên người, địa danh, tên tổ chức mà còn có rất nhiều kiểu khác phụ thuộc vào đặc trưng của loại dữ liệu, miền dữ liệu hay mục đích của hệ thống ứng dụng nhận dạng thực thể. Có thể kể đến một số kiểu thực thể được nêu ra tại các nhiệm vụ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (task/shared task) như sau: - Những kiểu thực thể định danh thông dụng nhất được tập trung nghiên cứu là người, tổ chức và địa điểm, chúng được định nghĩa lần đầu tại Message Understanding Conference-6 (MUC-6).
Những kiểu thực thể này là phổ biến đủ để có thể trở nên hữu ích trong nhiều miền ứng dụng. Việc trích xuất các biểu diễn ngày tháng, giờ, tiền tệ và tỷ lệ phần trăm, cũng được MUC-6 giới thiệu, thường cũng được xử lý trong NER, mặc dù nói đúng ra thì các biểu diễn này không phải là thực thể định danh. - Nhiệm vụ tại chương trình Automatic Content Extraction (ACE) đưa ra thêm nhiều loại thực thể mới, các loại thực thể được tổ chức dưới dạng cây phân cấp, chi tiết hơn MUC6. Ví dụ như kiểu thực thể tên tổ chức (organisation) có các loại con như tên tổ chức chính phủ, tổ chức giáo dục hay tổ chức thương mại [DMP04].
- Bên cạnh các kiểu thực thể thông thường trong văn bản tin tức, các loại thực thể liên quan đến y sinh cũng nhận được nhiều sự quan tâm. Hội thảo BioNLP/JNLPBA 2004 có nhiệm vụ yêu cầu nhận diện thực thể y sinh gene và protein [KOT04] hay nhiệm vụ Track3-CDR tại hội thảo BioCreative V (2015) yêu cầu phát hiện thực thể bệnh và thuốc [WPL15]. Thách thức Tuy là một bài toán cơ bản, nhưng nhận dạng thực thể cũng gặp phải không ít thách thức cần giải quyết do độ phong phú và sự nhập nhằng của ngôn ngữ. Thông thường thì bài toán này không thể được thực hiện một cách đơn giản nếu chỉ sử dụng đối sánh chuỗi với các từ điển đã được xây dựng trước vì các thực thể định danh của một kiểu thực thể thường không phải là một một tập đóng, do đó bất kỳ từ điển nào cũng sẽ là không đầy đủ.
Một lý do khác là loại thực thể định danh có thể phụ thuộc vào ngữ cảnh. Ví dụ, "JFK" có thể chỉ tới người "John F. Kennedy”, địa điểm "sân bay quốc tế JFK", hoặc bất kỳ loại nào khác có cùng dạng viết tắt đó. Tương tự “Sông Lam Nghệ An” có thể là địa điểm chỉ tên một con sông tại tỉnh Nghệ An hay tên một đội bóng “Sông Lam Nghệ An”.
Để xác định loại cho thực thể "JFK" hay“Sông Lam Nghệ An” xuất hiện trong một tài liệu cụ thể, cần phải xem xét đến ngữ cảnh chứa nó. Bên cạnh yếu tố về ngữ nghĩa, các yếu tố liên quan đến đặc trưng ngôn ngữ cũng góp phần làm bài toán nhận dạng thực thể trở nên khó khăn. Một số ngôn ngữ như tiếng Việt ngoài việc thiếu các tài nguyên xử lý ngôn ngữ tự nhiên còn phải thực hiện một số bài toán con như tách từ trước khi nhận dạng thực thể, tỷ lệ lỗi của các bài toán con sẽ ảnh hưởng đến kết quả của bài toán nhận dạng thực thể. Ngoài ra, từng loại thực thể cũng có những thách thức riêng khác nhau ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình nhận dạng.
Ví dụ thực thể tên tổ chức “Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội” có chứa thực thể tên địa danh “Thành phố Hà Nội”. Độ đo đánh giá Để đánh giá các mô hình nhận dạng thực thể cần phải tạo ra tập các tài liệu được gán nhãn bằng tay. Đối với việc đánh giá trên từng miền cụ thể, các tài liệu được lựa chọn gán nhãn phải liên quan đến dữ liệu miền mục tiêu. Ví dụ, để đánh giá việc trích xuất các thực thể gen và protein, ta phải sử dụng các tài liệu y sinh như các tóm tắt từ kho dữ liệu PubMed.
Nhưng nếu mục đích là để đánh giá so sánh giữa các kỹ thuật nhận diện thực thể nói chung, cần phải sử dụng một tập dữ liệu 19 tiêu chuẩn đã được cộng đồng nghiên cứu chấp nhận [AZ12]. Các tập dữ liệu thường được dùng để đánh giá chung cho các loại thực thể định danh thông thường có thể kể đến là tập dữ liệu của hội nghị MUC, CoNLL-2003 và ACE 2004, còn để đánh giá cho các loại thực thể trong y sinh có thể sử dụng tập dữ liệu GENIA [KOT03], CHEMDNER [KLR15]. Các số đo đánh giá điển hình được sử dụng cho nhận dạng thực thể là độ chính xác (precision - P), độ hồi tưởng (recall - R) và độ đo F1 (F1-measure). Độ chính xác được tính bằng phần trăm các kết quả đúng trong tổng số kết quả nhãn dương của hệ thống.
Độ hồi tưởng là phần trăm các trường hợp được gán nhãn đúng trong tất cả các mẫu dương có trong dữ liệu. Độ đo F1 là trung bình điều hòa của độ chính xác và độ hồi tưởng. mô tả một cách trực quan các độ đo này. Mô tả các độ đo độ chính xác, độ hồi tưởng và độ đo F1 Trong nhận dạng thực thể, nói một cách chính xác thì một thực thể định danh được nhận dạng cần phải thỏa mãn hai tiêu chí: Một là xác định đúng biên thực thể và hai là xác định đúng kiểu thực thể.
Hầu hết các đánh giá đòi hỏi việc ánh xạ chính xác biên thực thể. Tuy nhiên, đôi khi trong một số trường hợp thì việc ánh xạ một phần cũng được chấp nhận, ví dụ khi mục tiêu chỉ là xác định liệu thực thể nào đó có được nhắc đến trong văn bản hay câu hay không [TWC06]. Ứng dụng của nhận dạng thực thể Nhận dạng thực thể là một bài toán quan trọng, thường được sử dụng như là một bước tiền xử lý trong các hệ thống trích xuất thông hay trích chọn thông tin phức tạp. Có thể kể đến nhận dạng thực thể xuất hiện trong một số các ứng dụng sau: Trích xuất quan hệ là bài toán nhận diện các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa hai thực thể hay giữa một thực thể và một khái niệm [GLR06], ví dụ như mối quan hệ người-nơi làm việc (Ronaldo, Real Madrid) hay quan hệ nơi sinh (Hồ Chí Minh, Nghệ An).
Trong bài toán này, bài toán nhận diện thực thể là vấn đề đầu tiên cần được giải quyết trước khi trích xuất quan hệ. Trích xuất sự kiện là bài toán phức tạp hơn trích xuất quan hệ khi sự kiện là một tổ hợp của nhiều yếu tố thể hiện các thông tin biểu diễn về ai/cái gì đã làm gì, với ai/cái gì, bao giờ, ở đâu, bằng cách nào và tại sao. Các sự kiện có thể là một sự kiện trong thế giới thực như sự kiện khủng bố, sự kiện tài chính,… hay cũng có thể là một sự kiện xảy ra của một quá trình tự nhiên như các sự kiện y sinh liên quan đến biến đổi gene hay gene gây bệnh. Tương tự như trích xuất quan hệ, trong trích xuất sự kiện vấn đề nhận dạng thực thể cũng đặt lên hàng đầu khi yêu cầu phải nhận ra đủ và chính xác các thành phần cấu thành nên sự kiện.
Nhiều hệ thống về trích xuất sự kiện đã áp dụng thành công NER trong các thành phần xử lý như hệ thống BioCaster. Hệ thống hỏi đáp tự động đang là một lĩnh vực nhận được sự quan tâm lớn trong thời điểm lượng thông tin và tri thức bùng nổ. Khá nhiều các hệ thống hỏi đáp tự động dựa trên khai phá văn bản cần đến nhận dạng thực thể như là một yếu tố làm tăng khả năng phân tích, hiểu câu hỏi và dữ liệu trả lời trong hệ thống [HWY05]. Có thể kể đến một số nghiên cứu sử dụng nhận dạng thực thể cho hệ thống hỏi đáp như nghiên cứu của Yao và Van Durme (2014) [YD14] sử dụng NER trong pha phân tích câu hỏi để xác định chủ đề hỏi hay hệ hỏi đáp của West và cộng sự (2014) [WGM14] áp dụng NER cho việc 21 phát hiện các mối quan hệ có trong log được trả về từ máy tìm kiếm hỗ trợ cho thành phần trả lời câu hỏi.