Chương 1: MẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nền tảng phân phối dịch vụ SDP 1.1 Giới thiệu nền tảng phân phối dịch vụ Nền tảng phân phối dịch vụ SDP (Service Delivery Platform) là một khái niệm không có định nghĩa chuẩn. Tuy nhiên, thông thường SDP được hiểu như là một nền tảng dựa trên công nghệ thông tin (IT) mà công ty viễn thông sử dụng để cung cấp các dịch vụ đa dạng cho khách hàng [11]. Hay SDP là tập hợp các thành phần cung cấp kiến trúc phân phối dịch vụ (như tạo ra dịch vụ, điều khiển phiên và các giao thức) cho một loại dịch vụ nào đó. Cả mạng cố định và di động đều có thể sử dụng một nền tảng phân phối dịch vụ SDP để cung cấp dịch vụ.
Các dịch vụ này bao gồm dịch vụ viễn thông truyền thống như điện thoại và các dịch vụ dữ liệu tiên tiến như các ứng dụng IT. Từ định nghĩa này, [11] đưa ra các yêu cầu tối thiểu cho SDP đó là: Hướng dịch vụ bởi vì nó quản lý việc tạo ra, dự liệu, thực thi và tính cước các dịch vụ. Hỗ trợ phân phối dịch vụ trong mạng và phương thức độc lập thiết bị, bởi trừu tượng hóa cơ sở hạ tầng mạng bên dưới. Cung cấp một điểm chuẩn hóa cho các nhà phát triển tìm ra và sử dụng các khả năng về dịch vụ và nội dung đa dạng.
Cung cấp cho các nhà phát triển bên ngoài và doanh nghiệp sử dụng IT truy nhập mở và bảo mật tới khả năng của các công ty viễn thông. Hiện tại, SDP không có kiến trúc chuẩn hóa. Tuy nhiên, một kiến trúc SDP tổng quát được đưa ra như trong Hình 1.1: Kiến trúc SDP tổng quát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Kiến trúc ở trên chỉ ra các công nghệ đã chuẩn hóa với các giao diện tương ứng. Ví dụ, các chuẩn đã có phù hợp với các giao diện theo chiều dọc nhưng vẫn đang thiếu các chuẩn cho các giao diện theo chiều ngang.
Kiến trúc SDP nhận ra các nền tảng dịch vụ đã phân phối. Những nền tảng này trừu tượng hóa và đơn giản hóa các tài nguyên và chức năng mạng viễn thông như khả năng dịch vụ. Các nền tảng và khả năng của chúng là: Nền tảng trừu tượng mạng chứa các bộ khả năng dịch vụ mạng cung cấp một điểm truy nhập chung tới các tài nguyên và khả năng mạng không đồng nhất. Nền tảng phân phối nội dung chứa các bộ khả năng dịch vụ nội dung cung cấp và phân phối nội dung tới khách hàng.
Chúng ta xem nội dung như một tài nguyên mạng, được cung cấp bởi công ty viễn thông hay nhà cung cấp bên ngoài. Nền tảng quản lý gồm các bộ khả năng dịch vụ quản lý trừu tượng hóa chức năng OSS/BSS của công ty viễn thông. Nền tảng thực thi dịch vụ gồm các ứng dụng mạng viễn thông cung cấp dịch vụ tới khách hàng. Các dịch vụ này bao gồm thoại, dữ liệu hay các dịch vụ dựa trên đa phương tiện.
Các dịch vụ viễn thông sử dụng các dich vụ mạng, nội dung và quản lý. Chúng ta xem các ứng dụng viễn thông này như tập hợp các khả năng dịch vụ vì chúng thể hiện giao diện với các nền tảng khác. Nền tảng hướng dịch vụ chứa các khả năng dịch vụ cung cấp các thực thể bên ngoài truy nhập đơn giản tới tất cả các khả năng dịch vụ của các nền tảng.1 chỉ ra các giao diện khả năng dịch vụ đưa ra bởi các nền tảng tương ứng. Các giao diện này được ánh xạ theo chuẩn giao diện lập trình ứng dụng API.
API thực hiện các giao diện bởi nền tảng hướng dịch vụ. Tuy nhiên, Parlay API cũng thực hiện các giao diện bởi nền tảng trừu tượng mạng, nền tảng thực thi dịch vụ và nền tảng phân phối nội dung.1, API dựa trên giao diện không chuẩn hóa được minh họa bởi X. Điều này cho thấy vẫn còn thiếu API dựa trên chuẩn sử dụng để tích hợp các khả năng, như các chức năng OSS/BSS vào SDP.2 Các thành phần của SDP Môi trường thực thi dịch vụ Môi trường kiến tạo dịch vụ Môi trường triển khai dịch vụ Môi trường quản lý dịch vụ Môi trường thực thi dịch vụ Môi trường thực thi dịch vụ hỗ trợ để thực thi nền tảng phân phối dịch vụ và các dịch vụ giá trị gia tăng. Nó bao gồm các dịch vụ sau: Dịch vụ điều khiển Soạn thảo dịch vụ Các dịch vụ tích hợp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Môi trường kiến tạo dịch vụ Môi trường kiến tạo dịch vụ cung cấp một môi trường phát triển cho các nhà phát triển phần mềm để tạo ra các dịch vụ mới và mở rộng các dịch vụ đã có.
Nó làm đơn giản hóa việc tạo ra và giảm thời gian tới thị trường của dịch vụ mới. Môi trường kiến tạo dịch vụ bao gồm: Thư mục dịch vụ Môi trường phát triển tích hợp (IDE) Kit phát triển phần mềm (SDK) Môi trường triển khai dịch vụ Để phát triển nhanh chóng các dịch vụ mới dưới nền tảng phân phối dịch vụ là rất quan trọng, và cũng quan trọng để các nhà mạng quản lý việc triển khai các dịch vụ mới trong mạng lõi hoặc mạng triển khai nội dung. Môi trường triển khai cung cấp các chức năng sau: Các công cụ triển khai Hỗ trợ mạng triển khai nội dung Quản lý tài nguyên Môi trường quản lý dịch vụ Môi trường quản lý dịch vụ cung cấp các chức năng quản lý mở rộng tất cả các lớp trong kiến trúc nền tảng phân phối dịch vụ. Nó cung cấp cho nền tảng phân phối dịch vụ và các dịch vụ giá trị gia tăng các chức năng sau: Quản lý lỗi Cấu hình Kế toán tài chính Hiệu suất thực hiện Bảo mật 1.3 Kết cấu nền tảng phân phối dịch vụ Kết cấu nền tảng phân phối dịch vụ tổng quát được minh họa trong Hình 1.2 biểu diễn các lớp và miền tạo thành nền tảng kết cấu SDP.
Các lớp và miền biểu diễn thiết kế phân lớp cấu trúc hóa kết cấu độc lập với các công nghệ. Các lớp phân cấp khả năng dịch vụ, trong khi các miền phân phối các lớp và khả năng dịch vụ của chúng thông qua các ranh giới cơ sở hạ tầng khác nhau. Các lớp trên của kết cấu SDP phân tách tầng dịch vụ mô hình tham chiếu NGN, trong khi đó các lớp thấp hơn là cho tầng mạng. Phân loại các khả năng dịch vụ cung cấp các chức năng đơn giản ra nguồn bên ngoài thành lớp dịch vụ đơn giản.
Ta phân loại các khả năng dịch vụ cung cấp chức năng phong phú tới các khả năng dịch vụ đơn giản thành lớp dịch vụ trung bình. IMS định nghĩa các khả năng dịch vụ hướng mạng hỗ trợ Parlay và OMA bằng cách cung cấp một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 giao diện với chức năng mạng. Ta phân loại các khả năng dịch vụ cung cấp các chức năng phong phú hơn cho các khả năng dịch vụ trung gian vào lớp dịch vụ phức tạp.2: Kết cấu SDP biểu diễn các lớp và miền Trong kiến trúc SDP, người ta chia các lớp theo vùng quan tâm khác nhau. Miền người dùng minh họa khách hàng của mỗi ứng dụng; miền này bao gồm phần cứng và phần mềm đầu cuối truy cập mạng và các ứng dụng.
Miền thuê bao dịch vụ biểu diễn doanh nghiệp sử dụng IT cung cấp các ứng dụng đa dạng. Miền cung cấp kết nối là một công ty hay doanh nghiệp viễn thông cung cấp kết nối vật lý cho người sử dụng truy cập các ứng dụng. Miền mạng hội tụ là tổng hợp các phương thức truyền dẫn bao gồm viễn thông, doanh nghiệp và Internet. Miền nền tảng dịch vụ biểu diễn “trái tim” của kiến trúc SDP.
Miền này bao gồm tổng hợp các dịch vụ đơn giản, trung bình và phức tạp. Miền doanh nghiệp biểu diễn một hoặc nhiều doanh nghiệp sử dụng IT truy cập các giao diện khả năng dịch vụ SDP. Miền OSS/BSS (hệ thống hỗ trợ vận hành/ hệ thống hỗ trợ kinh doanh) biểu diễn tổng hợp các hệ thống quản lý viễn thông.2 Mạng hướng dịch vụ SON 1.1 Giới thiệu mạng hướng dịch vụ Thành công của một ứng dụng SOA phụ thuộc hầu hết ở khả năng cơ sở hạ tầng truyền bản tin giữa các thành phần trong SOA. Mạng đóng vai trò then chốt trong truyền dữ liệu nhanh chóng và tin cậy, SOA còn cần nhiều hơn thế nữa.
Nếu một thành phần SOA đơn lẻ bị lỗi hay quá tải, các bản tin sẽ phải cân bằng tải tới các thành phần khác cung cấp cùng dịch vụ. Khi thành phần mới được thêm vào, nâng cấp hay di chuyển, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 các bản tin cần định tuyến theo. Cần đánh giá khả năng hoạt động, lưu lượng SOA quản lý, và hoạt động nhạy với xử lý như giải mã SSL và chuẩn hóa XML cần đưa ra ngoài tải của các thành phần SOA nhằm cải thiện dung năng của chúng. Không dịch vụ nào có thể cung cấp bởi chính bản thân các thành phần SOA.
Thay vào đó, xuất hiện một khái niệm mới – Mạng hướng dịch vụ SON. SON xác nhận truyền bản tin là vai trò của mạng, nhưng các dịch vụ mới cần hỗ trợ nhu cầu của các ứng dụng SOA. Về bản chất, SON xác định mạng cần trở nên nhanh, linh hoạt như các ứng dụng SOA mà nó hỗ trợ. SON không nâng cấp phá bỏ hoàn toàn phần cứng mạng hiện có.
Thay vào đó, SON được tạo ra bởi xây dựng các ứng dụng ở đỉnh của mạng hiện tại, sử dụng các giải pháp đã được chứng tỏ và kỹ lưỡng để nhận ra sự hứa hẹn đầy đủ của SOA. SON là một kiến trúc mới nổi cho phép các thiết bị mạng hoạt động tai lớp ứng dụng với các đặc trưng giảm tải (offloading), tích hợp giao thức và định tuyến dựa trên nội dung. Bằng cách thêm vào sự nhận ra ứng dụng vào kết cấu mạng, SON có thể cung cấp độ lợi lớn tính trên hiệu suất và sự hiệu quả toàn cục và cho phép tích hợp các môi trường không đồng nhất. Chúng ta xem tập các hoạt động mức ứng dụng phía mạng này như các chức năng của SON.
Trong số khác, chức năng SON cung cấp ba lợi ích chính: ảo hóa dịch vụ, triển khai cục bộ và cải thiện quản lý.2 Lợi ích Ảo hóa dịch vụ Ảo hóa dịch vụ ghép trong suốt tập các dịch vụ với các tài nguyên back-end được bảo vệ thực tế cung cấp dịch vụ.