CHƯƠNG 1: TNG QUAN CÁC NGHIÊN CU 1.1 Tng quan v đin ton đm mây Hiện nay chúng ta nghe nói về điện toán đám mây (Cloud Computing) khá nhiều. Đây là mô hình điện toán sử dụng các công nghệ mạng máy tính và phát triển dựa vào mạng Internet. Các máy tính được cấu hình để làm việc cùng nhau, các ứng dụng khác nhau sử dụng sức mạnh điện toán tập hợp như đang chạy trên một hệ thống thống nhất. Trong vài năm gần đây, điện toán đám mây đã tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp máy tính, thay đổi cơ bản cách thức sử dụng các ngun tài nguyên, cơ cấu vận hành cng như việc lưu trữ, phân phối và xử lý thông tin.
mô hình điện toán, mọi khả năng liên quan đến công nghệ thông tin được cung cấp dưới dạng dch vụ, cho phép người sử dụng truy cập vào dch vụ từ một nhà cung cấp mà không cần phải có kiến thức, kinh nghiệm về công nghệ đó cng như không cần quan tâm đến cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ đó. Tính linh hoạt của điện toán đám mây là chức năng phân phối tài nguyên theo yêu cầu. Trước đây, khi triển khai một ứng dụng cần phải mua hay thuê một hay nhiều máy chủ, thì nay điện toán đám mây cho phép giản lược quá trình này. Các lợi ích mà nó đem lại như cung cấp những gì cần thiết một cách tức thời các tài nguyên, tốc độ xử lý nhanh, cắt giảm chi phí, mở rộng linh hoạt, tiếp cận từ xa, bảo mật tích hợp, cài đt và bảo trì tài nguyên thay vào đó xác đnh nhu cầu của mình sau đó các nhà cung cấp dch vụ s cung cấp.
Hiện nay, Google, Amazon.com và Salesforce.com đang dẫn đầu trong cộng đng và phát triển không gian điện toán doanh nghiệp. Có ba mức độ chính của các dch vụ điện toán đám mây: Hạ tầng được cung cấp như một dch vụ (Infrastructure as a Service - IaaS), nền tảng được cung cấp như một dch vụ (Platform as a Service), phần mềm được cung cấp như một dch vụ (Software as a Service - SaaS). Hạ tầng được cung cấp như một dch vụ theo Amazon là mức cơ bản nhất của điện toán đám mây, thường thì nhà cung cấp dch vụ s cung cấp các dch vụ về mạng, máy tính 12 (máy ảo hoc máy thật tùy nhu cầu) cng như nơi lưu trữ dữ liệu. Cụ thể bạn có thể thuê một hệ thống cung cấp máy chủ trên mây với lượng CPU, RAM, ổ cứng (SSD hoc HDD) tùy theo nhu cầu người dùng.
Như vậy bạn đã có một máy chủ còn các vấn đề như máy chủ đt đâu hay việc bảo trì ra sao thì người sử dụng không cần quan tâm đến. Như vậy IaaS không được thiết kế cho người dùng cuối mà chủ yếu cho những người muốn một nơi để triển khai phần mềm của mình như lập trình viên, công ty… Dch vụ điện toán đám mây thứ hai phổ biến hiện nay là nền tảng được cung cấp như một dch vụ ( Platform as a Service - PaaS) là mức độ cao hơn so với IaaS. Trong trường hợp mua dch vụ IaaS bạn s được cung cấp một máy chủ. Nhưng để triển khai ứng dụng web của bạn, bạn phải tự cài đt nhiều thứ liên quan như máy chủ web, cơ sở dữ liệu… sau đó mới có thể triển khai ứng dụng của mình.
Đối với PaaS cho phép bạn chọn một nền tảng đã được cài đt sẵn và phù hợp cho ứng dụng của mình. Có nhiều nhà cung cấp dch vụ không cho phép bạn sở hữu máy chủ, họ chỉ đơn giản cung cấp cho bạn một nền tảng để bạn triển khai ứng dụng của mình, trong trường hợp này bạn đang sử dụng chung một máy chủ với nhiều người khác. Và cơ sở dữ liệu của bạn cng được cài đt trong môi trường lưu trữ với hàng trăm cở sở dữ liệu khác. Điều này làm giảm chi phí bạn phải trả, tuy nhiên gây ra các rủi ro, và là mục tiêu hàng đầu của các cuộc tấn công độc hại truy cập bất hợp pháp vào dữ liệu của bạn.
Dch vụ thứ ba phổ biến hiện nay là phần mềm được cung cấp như một dch vụ ( Software as a Service – SaaS ) đây là mức độ cao nhất trong các loại hình dch vụ điện toán đám mây. Đó là một sản phm hoàn thiện được vận hành và quản lý bở một nhà cung cấp. Hầu hết các trường hợp thì dch vụ SaaS cung cấp những phần mềm hoc ứng dụng chạy trên Internet và có thể sử dụng ngay bởi người dùng cuối. Các dch vụ gửi thư điện tử như Gmail, Outlook … là một trong số các ví dụ điển hình của Saas bạn có thể ngay lập tức sủ dụng để gửi nhận thư mà không phải thiết lập máy chủ quản lý thư.
Google Docs hoc Microsolf Online cng là SaaS là những bộ phần mềm văn phòng trực tuyến và được cung cấp miễn phí. Điện toán đám mây mang lại những lợi ích thiết thực trong đó lợi ích lớn nhất là tiết kiệm chi phí. Chủ yếu là bạn 13 s giảm được chi phí đầu tư hạ tầng ban đầu, chi phí mua phần cứng, phần mềm bảo dưỡng, chi phí lắp đt, vận hành… Theo sau đó là sự tiện lợi bạn có thể nhanh chóng sử dụng ngay một thứ gì đó mà không phải tốn công cài đt phức tạp, có thể truy cập mọi lúc mọi nơi khi có Internet không phụ thuộc vào phần mềm hay phần cứng đang sử dụng. Một lợi ích nữa là sự an toàn và tính liên tục, nếu ổ cứng của bạn b hỏng, có thể bạn s mất hết dữ liệu, trừ khi đã được sao lưu sang một ổ cứng khác.
Trong khi đó nếu dữ liệu được đưa lên Dropbox hay OneDrive thì tính an toàn s cao hơn. Dữ liệu của bạn được chăm sóc bởi nhà cung cấp dch vụ bằng cách sao lưu đnh kì, nếu ổ cứng tại đó b hỏng s được thay thế bởi nhà cung cấp dch vụ, và dữ liệu vẫn được an toàn. Tính an toàn của dữ liệu cng được xem như một lợi ích khi sử dụng điện toán đám mây. Bên cạnh những lợi ích điện toán đám mây cng gp phải những hạn chế nhất đnh.
Khi sử dụng điện toán đám mây bạn phải tin tưởng rằng nhà cung cấp dch vụ s bảo mật thông tin cho mình, không làm rò rỉ thông tin ra ngoài và đảm bảo dữ liệu không b bán cho các đối thủ cạnh tranh nhưng đôi khi các nhà cung cấp dch vụ không làm được điều đó. Mt khác thời gian chết cng là một hạn chế do không một nhà cung cấp nào đảm bảo rằng máy chủ của họ s chạy liên tục 100% và không bao giờ ngừng.2 Nhu cu thc t v cung cp ti nguyên đin ton đm mây Trong lĩnh vực điện toán đám mây có một vấn đề mà nhà cung cấp gp phải là máy chủ của họ không có khả năng cung cấp cho tất cả các yêu cầu tại một thời điểm nào đó làm cho người sử dụng dch vụ rơi vào thời gian chết. Nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề này là khi chúng ta sử dụng dch vụ điện toán đám mây, thông thường chúng ta sử dụng chung tài nguyên với nhiều người khác và nhà cung cấp có nhiệm vụ quản lý và phân phối tài nguyên cho người dùng nhưng do yêu cầu tăng cao đột ngột các nhà cung cấp không lường trước được. Đối với các nhà cung cấp dch vụ điện toán đám mây thì việc dự đoán lượng tài nguyên cần phải cung cấp trong tương lai là rất cần thiết giúp các nhà cung cấp dch vụ giảm được tối đa thời gian chết cho những người sử dụng dch vụ.
Ví 14 dụ như việc dự đoán nhu cầu sử dụng CPU hay RAM trong thời gian tới để trung tâm máy chủ có chiến lược cấp phát tài nguyên phù hợp là một bài toán rất phổ biến. Tại một trung tâm máy chủ năng lượng tiêu tương thụ ứng với số lượng máy chủ hoạt động tại một thời điểm. Nếu số lượng máy chủ hoạt động càng nhiều thì càng tiêu tốn năng lượng. Do nhu cầu sử dụng tài nguyên tại từng thời điểm là khác nhau rất thất thường, nên tại mỗi thời điểm số lượng máy chủ cần để đáp ứng tài nguyên cung cấp là rất khác nhau.
Nếu có thể sử dụng ít máy chủ nhất mà vẫn có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu tài nguyên thì trung tâm s tiêu tốn ít năng lượng nhất. Với một mô hình có thể dự đoán khá chính xác lượng tài nguyên sử dụng trong tương lai thì trung tâm có thể tập trung vào việc thay đổi trạng thái của các máy chủ (ngủ, hoạt động) từ đó tối ưu hóa số lượng máy chủ cần hoạt động tại một thời điểm và năng lượng cần sử dụng. Nếu trong trường hợp số lượng yêu cầu tài nguyên đến trung tâm tăng cao thì trung tâm s có thể lường trước được và s có thời gian để kích hoạt thêm máy chủ để đáp ứng nhu cầu này. Bài toán dự đoán ngoài áp dụng cho điện toán đám mây còn có rất nhiều ứng dụng cho các lĩnh vực khác như dự đoán nhiệt độ, dự đoán sự tăng giảm cổ phiếu … Tuy rằng bài toán dự đoán cho thấy lợi ích không chỉ trong lĩnh vực điện toán đám mây mà còn trong nhiều lĩnh vực khác nhưng giải quyết bài toán trên vẫn gp phải nhiều khó khăn do sự thay đổi bất thường liên tục của dữ liệu.3 Cc nghiên cu liên quan 1.1 Tng quan Mục đích chính của k thuật phân phối tài nguyên chủ động là dự đoán chính xác tài nguyên sử dụng.
Có một số lượng lớn các nghiên cứu về các mô hình dự toán trong điện toán đám mây. Và ARIMA (Autoregressive Intergrate Moving Average) là một trong những mô hình tuyến tính phổ biến, thường xuyên được sử dụng. Trong mô hình này giả đnh rằng chuỗi dữ liệu là tuyến tính và tuân theo một phân phối thống kế nào đó. Mô hình ARIMA có các lớp mô hình con như mô hình tự hi quy (Auto regressive - 15 AR) , mô hình trung bình trượt (Moving average – MA), mô hình tự hi quy và trung bình trượt ARMA (autoregressive-moving average) là mô hình kết hợp mô hình tự hi quy và mô hình trung bình trượt.
Sự phổ biến của mô hình ARIMA chủ yếu là do sự mềm dẻo và khá dễ dàng triển khai trên thực tế.