CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Khung lý thuyết về IPO: 2.1 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Informartion): Thông tin bất cân xứng thông tin xảy ra trong giao dịch khi một bên có nhiều thông tin hoặc thông tin tốt hơn so với bên kia. Trường hợp này thường xảy ra trong giao dịch khi bên bán biết nhiều hơn bên mua do đó làm ngược lại khi có việc không tốt xảy ra. Do đó đây là một trường hợp có hại bởi vì một bên sẽ có những thuận lợi so với bên đối tác thiếu các thông tin. Leland and Pyle’s model (1976) mô hình Leland và Pyle cho rằng thông tin bát cân xứng giữa nhà phát hành IPO và nhà đầu tư có thể giảm bớt bằng cách quan sát những tín hiệu từ những cổ phần đang nắm giữ bởi các nhà phát hành.
Ngoài ra họ là những người đầu tiên được các tồ chức tài chính trung gian yêu cầu giải quyết các vấn đề bất cân xứng thông tin. Năm 2001 giải nobel kinh tế đã được trao cho George Akerlot, Michale Spence và Joseph cho nghiên cứu “ phân tích thị trường với thông tin bất cân xứng” (Analyses of markets with asymmetric information). (2002) Nghiên cứu lợi tức bất thường trong ngắn hạn tại Trung Quốc từ tháng 01-1996 đến 31-12-2000. Kết quả chỉ ra rằng lý thuyết bất cân xứng thông tin giải thích việc định dưới giá các công ty IPO tại Trung Quốc.2 Lý thuyết người đại diện (Agency theory) Lý thuyết người đại diện liên quan đến việc giải quyết vấn đề còn tồn tại trong mối quan hệ người đại diện, hỗ trợ giải thích mối quan hệ giữa người chủ và người quản lý doanh nghiệp.
5 Theo Jensen – Meckling (1976) vấn đề nhà quản lý trốn tránh nhiệm vụ xem như một loại chi phí, các nhà quản lý không thể hiện năng lực lãnh đạo của họ cũng được xem là một chi phí. Jensen – Meckling định nghĩa chi phí đại diện như một sự tổng hợp các chi phí của một hợp đồng có tổ chức. Hợp đồng này gồm: một người (người chủ) thuê người khác (người đại diện) làm nhiệm vụ thay thế cho mình (người chủ). Người chủ đưa ra quyết định ủy quyền cho người đại diện.
Trong hoạt động của doanh nghiệp, thường tồn tại hai nhóm liên quan mật thiết: nhóm cung cấp nguồn lực tài chính và nhóm điều hành doanh nghiệp. Bảo đảm và phân chia quyền lợi giữa hai nhóm này là nguyên nhân phát sinh xung đột lợi ích trong doanh nghiệp.Tuy nhiên trong một số trường hợp nhà đầu tư đồng thời là nhà quản lý thì chi phí đại diện sẽ không phát sinh. Chủ sở hữu, nhà đầu tư. lo ngại về việc thất thoát và sử dụng kém hiệu quả nguồn tài chính đã cung cấp cho doanh nghiệp.
Do vậy, khi đã bỏ vốn vào doanh nghiệp, nhóm này có xu hướng giành quyền kiểm soát (control) mọi hoạt động. Ban giám đốc, các vị trí điều hành chủ chốt. bị hạn chế và khó linh hoạt với các quyết định điều hành khi chịu quá nhiều kiểm soát từ các nhà cung cấp tài chính. Xung đột cũng nằm trong việc phân chia phần lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra.
Chủ sở hữu và nhà đầu tư, một cách hợp lý, hưởng phần lớn lợi nhuận. Đội ngũ điều hành có thể không hài lòng với điều này khi lý luận rằng ngoài lượng tư bản ban đầu bỏ ra, nhóm cung cấp tài chính không còn đóng góp gì thêm cho doanh nghiệp. Trong khi đó, chính họ, nhưng người quản lý với năng lực và danh tiếng của mình, đang ngày đêm gắn bó với hoạt động vận hành và làm nên thành công cho doanh nghiệp. Ngược lại, các nhà đầu tư tin rằng họ đã chấp nhận rủi ro lớn ở khi bỏ vốn vào doanh nghiệp.
Mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nhà quản lý: Cả hai bên đều mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình, tuy nhiên điều kiện để tối đa hoá lợi ích của hai bên không giống nhau. Nhà đầu tư mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình 6 thông qua việc tăng giá trị của doanh nghiệp, còn lợi ích của nhà quản lý thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được. Do nhà quản lý là người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp nên họ có thể thực hiện những hành vi hay quyết định nhằm tối đa hoá lợi ích cho cá nhân mình nhưng lại làm tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư. Những tổn thất gây ra trong trường hợp này được gọi là tổn thất do phân quyền (agency costs).
Lý thuyết người đại diện do Eisehardt.K (1989) khởi xướng nghiên cứu. Lý thuyết này giải thích mối quan hệ giữa chủ sỡ hữu – nhà quản lý doanh nghiệp – người cho vay (Owner – Manager – Lender).3 Lý thuyết định giá thời điểm thị trường (Market timing): Lý thuyết thời điểm thị trường là lý thuyết một công ty hay một tập đoàn dựa vào điều kiện thị trường quyết định chính sách nợ hay vốn chủ sở hữu, Đây là một trong rất nhiều lý thuyết tài chính và thường trái với lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi. Barker và Wurgler (2002), cho rằng thời điểm thị trường là yếu tố đầu tiên quyết định cấu trúc vốn là sử dụng nợ hay vốn cổ phần. Nói cách khác, nhìn chung các công ty không quan tâm quyết định tài chính của họ là nợ hay vốn chủ sỡ hữu, họ chỉ chọn phương án tài chính mà tại thời điểm đó dường như phương án đó có giá trị cao hơn giá trị thị trường tài chính.
Lý thuyết thời điểm thị trường đôi khi được phân loại như là một phần của lý thuyết tài chính hành vi, bởi vì nó không giải thích tại sao có tình trạng định giá sai hay những công ty sẽ có giá trị cao hơn khi được định giá sai so với thị trường tài chính. Thay vào đó nó chỉ giả định những sai giá tồn tài và mô tả hành vi của những công ty dưới những giả định mạnh mẽ này. Tuy nhiên bất kỳ lý thuyết nào với những chi phí biến đổi theo thời gian và lợi ích có thể tạo ra những thời điểm phát hành khác nhau của công ty và điều này là đúng cho dù những quyết định của những công ty là hành vi hay là hợp lý 7 Baker và Wurgler đã tìm ra bằng chứng thực nghiệm cho giả thuyết này là tốt nhất. Nó chỉ ra rằng những chỉ số tài chính phản ánh bao nhiêu tài chính được sử dụng trong giai đoạn nóng của vôn chủ sỡ hữu và bao nhiêu trong giai đoạn nóng của của nợ.
Những bằng chứng trực tiếp rằng các công ty có thể đánh bại thị trường là không thấy. Ngay cả những nhà phát hành chuyên nghiệp nhất cũng khó từ chối giả thuyết thời điểm quyết định phát hành là ngẫu nhiên Một vấn đề cũng rất đáng quan tâm là khi các doanh nghiệp hình như đang cố gắng phát hành cổ phiếu mới khi giá cổ phiếu đang cao và mua lại cổ phiếu khi giá trị thị trường của cổ phiếu xuống thấp. Những giả định nhận xét về vấn đề này đơn giản chỉ là những nhà quản trị tin rằng họ có thể gia nhập thị trường đúng lúc để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp của họ và họ thực sự đang cố gắng làm điều đó. Lucas và Mcdonald (1990) phát tiển một mô hình thông tin bất cân xứng là những công ty trì hoãn việc phát hành cổ phiếu của họ nếu họ biết rằng thời điểm hiện tại cổ phiếu của họ đang bị định dưới giá.
Nếu thị trường giám giá (thị trường gấu) giá trị của công ty quá thấp những nhà quản lý sẽ quyết định trì hoãn quá trình IPO đến khi thị trường tăng giá (thị trường bò) để cho giá chào bán hấp dẫn hơn. Trong nghiên cứu của Graham và Harvey (2001), những nhà quản trị tài chính thừa nhận rằng họ đang cố gắng để tham gia vào thị trường cổ phiếu đúng lúc, và hai phần ba trong số họ cho rằng phát hành hay mua lại cổ phiếu thường phụ thuộc vào giá trị của cổ phiếu doanh nghiệp bị định dưới giá hoặc định giá quá cao giá trị thị trường của cổ phiếu đó. Và đối với họ vấn đề đó thực sự quan trọng để xem xét trong quyết định tài chính. Welch (2004) thì kết luận rằng những cú sốc trong giá chứng khoán tạo ra một hiệu ứng kéo dài trong cấu trúc vốn và quyết định tài trợ của doanh nghiệp.4 Giả thuyết tín hiệu (Signaling Hypothsis): Ý tường này cho rằng nhiều hành động của các tổ chức kinh tế thì được thúc đẩy chủ yếu bởi mong muốn gửi một thông điệp đến đến các đối tượng khác chú không phải theo mục đích bên ngoài của họ.
Điều này có thể là một phương tiện để 8 khắc phục các vấn để thông tin bất cân xứng giữa các bên giao dịch. Ví dụ một nhà kinh doanh quuyết định chi trả một khoản tiền lớn cho việc quảng cáo một sản phẩm mới không phải đây là hình thức hiệu quả nhất công khai, nhưng vì với một số kinh phí lớn nhà kinh doanh muốn báo hiệu niềm tin lớn của công ty vào sản phẩm đến các nhà đầu tư, các nhà phân phối và các bên liên quan. Tương tự như vậy, chính sách trả cổ tức lớn có nghĩa là các nhà quản lý công ty đã phát tín hiệu tích cực về vị trí và triển vọng tương lai của công đến thị trường tài chính. Khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi là cung cấp một tín hiệu cho thị trường tài chính về viển cảnh tương lai của doanh nghiệp hoạch định.
Stephen Ross (1977) lập luận rằng những tín hiệu do các thay đổi cấu trúc vốn cung cấp là đáng tin cậy vì nếu các dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp chịu số tiền phạt tức chi phí phá sản có thể có. Giả thuyết tín hiệu thường đi đôi với lý thuyết bất cân xứng thông tin. Welch (1989), Allen and Faulhaber (1989), Grinblatt and Hwang (1989), và Chemmanur (1993) đã phát triển chuỗi mô hình tín hiệu để giải thích việc định dưới giá IPO. Những mô hình này dựa vào thông tin bất cân xứng giữa người phát hành và nhà đầu tư.
Welch và Ritter (2002) nếu nhà phát hành có thông tin tốt hơn nhà đầu tư về giá trị của IPO: chỉ những nhà phát hành có giá trị trung bình thấp mới sẵn sang bán ở mức giá trung bình.