Chương 1 – Thực trạng, mục tiêu và nền tảng lý thuyết: Tác giả trình bày về thực trạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông đối với người dùng di động tại Việt Nam và đưa ra các vấn đề bất cập còn tồn tại cần khắc phục. Tác giả trong chương này cũng đặt ra các mục tiêu chi tiết mà đề tài luận văn cần đạt được và xác định ra định hướng giải pháp để thực hiện được mục tiêu đó. Cuối chương sẽ là các cơ sở lý thuyết được sử dụng làm nền tảng để tác giả thực hiện luận văn. - Chương 2 – Tổng thể giải pháp, mô hình tích hợp và luồng xử lý: Tác giả đề xuất giải pháp có tính khả thi cao nhằm giải quyết các vấn đề bất cập dựa trên các nền tảng đã đưa ra trong chương trước.
Các mô hình tích hợp, thành phần giải pháp, luồng xử lý, … sẽ được trình bày chi tiết trong 11 chương này. Cuối chương sẽ là phần tự đánh giá của tác giả về giải pháp được đưa ra. - Chương 3 – Cài đặt, thử nghiệm và đánh giá ứng dụng: Tác giả trình bày chi tiết về quá trình cài đặt và xây dựng ứng dụng thử nghiệm cho giải pháp. Thông tin về quá trình thử nghiệm các chức năng của ứng dụng trong môi trường giả lập sẽ được liệt kê chi tiết theo dữ liệu đầu và dữ liệu cuối.
Cuối chương sẽ là phần tự đánh giá của tác giả về ứng dụng thử nghiệm trong môi trường giả lập. THỰC TRẠNG, MỤC TIÊU VÀ NỀN TẢNG LÝ THUYẾT Trong chương này, tác giả sẽ trình bày chi tiết về các vấn đề sau: - Trình bày thực trạng các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn trông đối với người dùng di động tại Việt Nam. - Đưa ra các vấn đề bất cập còn tồn tại trong thực tế của 03 đối tượng: người dùng, nhà mạng và đơn vị quản lý các nhà mạng. - Xác định chi tiết mục tiêu và định hướng của luận văn.
- Cơ sở lý thuyết: Các kiến thức liên quan tới dịch vụ - giá trị gia tăng - dịch vụ giá trị gia tăng, kiến trúc hướng dịch vụ và dịch vụ web.1 Thực trạng dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam Ngày nay, dịch vụ giá trị gia tăng trên nền tảng viễn thông di động đã không còn xa lạ đối với người dùng. Cùng với sự bùng nổ của các loại điện thoại thông minh, các dịch vụ giá trị gia tăng này càng trở nên đa dạng và phong phú, để người dùng có thể tự do chọn lựa và sử dụng. Hầu như hiện nay, bất cứ ai sử dụng điện thoại di động đều sử dụng một hoặc nhiều dịch vụ giá trị gia tăng như dịch vụ cuộc gọi lỡ, dịch vụ nhạc chuông, … Nhận thấy tiềm năng của dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực kinh doanh, các nhà mạng đưa ra rất nhiều dịch vụ giá trị gia tăng có những tính năng và tiện ích thú vị để thu hút người dùng di động, ví dụ một số dịch vụ tiêu biểu như: dịch vụ chữ ký cuộc gọi, dịch vụ nhạc chờ, … Tính đến hiện tại thì các nhà mạng đang hoạt động tại Việt Nam gồm có: Viettel, Vinaphone, Mobifone, Vietnamobile và Gmobile. Riêng về số lượng các dịch vụ giá trị gia tăng đang hoạt động tại Việt Nam thì hiện nay vẫn chưa có một đơn vị nào đưa ra được con số thống kê chuẩn xác.
Dưới đây là danh sách một số dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu mà 03 nhà mạng chiếm thị phần lớn nhất tại Việt Nam là Viettel, Vinaphone và Mobifone đưa ra: [4] NHÀ MẠNG VIETTEL VINAPHONE MOBIFONE DỊCH VỤ BÁO CUỘC GỌI LỠ MCA MCA MCA NHẠC CHỜ IMUZIK FUNRING RINGTUNES 13 CHỮ KÝ CUỘC GỌI ISIGN VSIGN MSTATUS CHẶN CUỘC GỌI ALL BLOCKING CALL CALL BLOCKING BARRING XEM TIVI MOBITV MOBILE TV MOBILE TV Bảng 1: Một số dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu Theo các chuyên gia viễn thông thì hiện nay dịch vụ giá trị gia tăng đang đóng góp xấp xỉ khoảng 40-50% doanh thu của các nhà mạng. Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của loại hình dịch vụ này trong lĩnh vực viễn thông, và các nhà mạng khó có thể sống được mà không có các dịch vụ giá trị gia tăng. Sau đây là các chỉ tiêu kinh doanh năm 2016 của 03 nhà mạng lớn: Viettel, Vinaphone và Mobifone. [6] Đơn vị tỷ đồng: Hình 1: Chỉ tiêu kinh doanh của các đơn vị viễn thông Nhận thấy các dịch vụ giá trị gia tăng mà các nhà mạng cung cấp thường có sự tương đồng về tiện ích, nên trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chọn ra đại diện 03 dịch vụ giá trị gia tăng để tập trung tìm hiểu và nghiên cứu, đó là: Imuzik, Isign và Mca.
Tất cả các vấn đề bất cập mà tác giả sẽ đưa ra sau đây cũng dựa trên thực tế của 03 dịch vụ giá trị gia tăng này là chủ yếu. Không thể phủ nhận lợi ích mà các dịch vụ giá trị gia tăng trên đem lại cho người dùng, nhưng cái gì cũng có hai mặt lợi và hại. Bên cạnh những tiện ích là một số bất tiện còn tồn tại, cụ thể: Về phía người dùng: 14 Các nhà mạng không cung cấp đẩy đủ thông tin về dịch vụ giá trị gia tăng trên thuê bao cho người dùng khi mua hoặc chuyển đổi gói cước. Khi người dùng thực hiện mua thuê bao trả trước hoặc đăng ký thuê bao trả sau thì đều không được cung cấp các thông tin liên quan đến dịch vụ giá trị gia tăng như: Thuê bao đã được kích hoạt dịch vụ nào chưa? Nếu có, đó là những dịch vụ giá trị gia tăng nào? Kích hoạt theo kiểu chính thức hay dùng thử? … Các nhà mạng tự động đăng ký các dịch vụ giá trị gia tăng theo kiểu miễn phí lần đầu cho người dùng, có gửi thông báo yêu cầu người dùng phải hủy trước khi chương trình dùng thử kết thúc, nếu không sẽ tự động bị trừ cước gia hạn.
Thực tế là có rất nhiều trường hợp người dùng đã thực hiện khiếu nại lên tổng đài các nhà mạng để yêu cầu giải thích và đòi bồi thường. Các nhà mạng không thông báo cho người dùng khi người dùng thực hiện đăng ký sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng. Tất nhiên là có thể do người dùng vô tình kích hoạt các dịch vụ giá trị gia tăng, nhưng thực tế, đây là trường hợp thiếu minh bạch thông tin của nhà mạng khiến cho người dùng bị móc túi nhiều nhất. Các thao tác chức năng đăng ký – hủy của dịch vụ gây khó khăn cho người dùng vì phải nhớ các thông tin đầu số, cú pháp để thực hiện.
Các thông tin này thường có nội dung na ná như nhau nên rất dễ khiến người dùng nhầm lẫn và thực hiện thao tác chức năng sai. Trường hợp hay gặp nhất là người dùng muốn hủy dịch vụ do thấy chán nhưng không thể hủy được vì không nhớ nổi cú pháp hủy của dịch vụ. Về phía nhà mạng: Nhà mạng không kiểm soát được số lượng và thông tin chi tiết của các dịch vụ đang hoạt động trên thị trường. Do không có sự tập trung thông tin về một chỗ nên nhà mạng không thống kê được con số chính xác về các dịch vụ giá trị gia tăng thuộc đơn vị mình quản lý.
Các thông tin chi tiết của dịch vụ do nhiều đơn vị nhỏ 15 riêng biệt trong nhà mạng đứng ra quản lý chứ không có sự tập trung, nên thông tin đưa ra cho người dùng cũng còn hạn chế. Nhà mạng không có sự quy hoạch dịch vụ nên người dùng thường gặp khó khăn trong việc tìm ra dịch vụ phù hợp với nhu cầu của bản thân, ví dụ như nhóm tiện ích đa phương tiện hay nhóm tiện ích data, thể loại dịch vụ chính thức hay dịch vụ dùng thử, … Tất cả được nhà mạng quy hết thành một nhóm hỗn độn, được gọi là dịch vụ giá trị gia tăng, và người dùng thường ngập chìm trong ma trận dịch vụ này. Uy tín của nhà mạng sụt giảm trong mắt người dùng do các dịch vụ đôi khi không có sự hợp lý trong kịch bản kinh doanh, ví dụ như việc tự động thực hiện đăng ký dịch vụ cho người dùng, không hề tính đến trường hợp rất phổ biến là người dùng không hề có nhu cầu. Nếu người dùng có nhu cầu thì họ đã tự đăng ký sử dụng từ lâu rồi, chứ không cần phải đợi nhà mạng tự động kích hoạt dịch vụ.
Số lượng khiếu nại dịch vụ mà nhà mạng nhận từ người dùng là không hề nhỏ, do thông tin mà nhà mạng cung cấp cho người dùng không đầy đủ và thiếu hợp lý. Thông tin dịch vụ thường được chuyển tới người dùng qua tin nhắn, nhưng do giới hạn ký tự nên thông tin thiếu hụt rất nhiều. Các khiếu nại như trừ tiền dịch vụ không rõ ràng, người dùng muốn hủy mà hủy mãi không thành công, … là chuyện thường xảy ra. Nhà mạng mới chỉ đưa ra kênh tra cứu tập trung (không có thao tác chức năng đăng ký – hủy) cho riêng các thuê bao thuộc bản thân chứ không hỗ trợ được thuê bao bất kỳ do thiếu sự phối hợp chia sẻ thông tin lẫn nhau: Vinaphone thì nhắn TK gửi 123, Mobiphone thì nhắn KT gửi 994, Viettel thì nhắn TC gửi 1228, … Về phía đơn vị quản lý nhà mạng: Nhà quản lý không thể kiểm soát được số lượng và thông tin chi tiết các dịch vụ giá trị gia tăng đang hoạt động của từng nhà mạng.
16 Từng nhà mạng còn không kiểm soát được nội bộ thì tất nhiên nhà quản lý cũng không thể kiểm soát các nhà mạng được. Nhà quản lý không thể giám sát việc kinh doanh các dịch vụ của từng nhà mạng, trừ khi thực hiện thanh tra rà soát kịch bản kinh doanh của dịch vụ. Rất nhiều nhà mạng bị phạt do vi phạm chính sách kinh doanh dịch vụ, nhưng tình hình cũng không cải thiện được bao nhiêu, người dùng vẫn là bên chịu thiệt. Nhà quản lý không thể trợ giúp được người dùng vì không có công cụ hỗ trợ kiểm soát dịch vụ hay giám sát nhà mạng dưới quyền.
Nếu hỏi về thông tin một dịch vụ nào đó, ví dụ như dịch vụ cuộc gọi lỡ, dịch vụ nhạc chờ, … thì nhà quản lý cũng không thể đưa ra câu trả lời.