MỞ ĐẦU Quá trình sinh trưởng và phát triển ở cá diễn ra liên tục theo các bước đặc trưng của từng loài và ít nhiều chịu sự chi phối trực tiếp của nhiều yếu tố. Các quá trình này phụ thuộc vào cả các yếu tố bên trong (hệ thần kinh, hệ nội tiết, hệ tuần hoàn,…) và bên ngoài (sinh thái), kiểm soát hoặc đồng bộ hóa nhiều hoạt động chức năng của cơ thể, bao gồm cả khả năng tăng trưởng [6, 11, 19, 62]. Tất cả những vấn đề này phải được xem xét khi phát triển nghề cá, nhằm mục đích cơ bản là nuôi trồng thuỷ sản có chất lượng cao với chi phí tiết kiệm nhất. Điều này đòi hỏi phải tiến hành nuôi thí nghiệm với nhiều yếu tố khác nhau cùng tác động đồng thời để cung cấp những đánh giá chính xác.
Chế độ ăn có tác động mạnh mẽ đến khả năng chịu đựng căng thẳng và duy trì tình trạng sức khỏe của cá, do đó, để tăng trưởng đầy đủ và chống lại các vấn đề về căng thẳng, bệnh tật, cá phải được cho ăn đủ số lượng, chất lượng nhằm đáp ứng tất cả các yêu cầu dinh dưỡng cần thiết. Khẩu phần ăn không đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể, không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn làm tăng khả năng mắc bệnh, đồng thời xuất hiện các dấu hiệu thiếu hụt dinh dưỡng. Trong số các sinh vật thủy sinh, cá là một trong những loài rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường do ô nhiễm, nhiều loài trong số chúng có thể sử dụng làm quan trắc sinh học nhằm đánh giá tác động của ô nhiễm môi trường biển [76]. Những tác động từ môi trường bao gồm thay đổi các thành phần trong nước, các thông số môi trường, tùy theo mức độ thay đổi nhiều hay ít mà gây ra ảnh hưởng đến sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản, tỉ lệ sống, độ đồng đều của quần thể cá.
Nhiều yếu tố môi trường và thay đổi sinh lý có ảnh hưởng đến hồ sơ huyết học của cá, chúng bao gồm thay đổi nơi sống, các chỉ số hoá lý của nước, bệnh tật, tuổi và giới tính. Do đó, các nghiên cứu về huyết học đã được sử dụng rộng rãi như một phương tiện đánh giá tình trạng sức khỏe của cá, việc kiểm tra huyết học của cá thường được coi là tiêu chuẩn cho các nghiên cứu sinh lý, bệnh lý và độc tính [46]. Các biến số huyết học phổ biến nhất thường được nhắc đến bao gồm số lượng tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hàm lượng huyết sắc tố và giá trị hematocrit. Đánh giá 1 mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường lên cơ thể sinh vật bằng cách sử dụng các chỉ số về hình thái cơ thể và máu cá đã được nhiều tác giả trên thế giới đề cập [23, 43, 62, 81, 91], tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này còn ít được nghiên cứu.
Cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus) là một loài cá phổ biến, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon, giàu giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao. Đồng thời, chúng là loài cá rộng muối nên có thể nuôi trong nhiều điều kiện khác nhau (bể sợi thuỷ tinh, ao đất, lồng nuôi ven bờ biển) [19]. Cá hồng mỹ cũng như các loài cá nói chung khác, là một trong những nhóm sinh vật rất nhạy cảm với sự ô nhiễm hóa chất và chúng có thể được sử dụng làm quan trắc sinh học [76]. Đánh giá những dữ liệu từ các nghiên cứu hiện có trên thế giới cũng như Việt Nam có thể thấy rằng, cá hồng mỹ trong tương lai vẫn sẽ được sử dụng như một trong những nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị cho con người.
Những cải tiến trong kỹ thuật nuôi đối với loài cá này như cách sử dụng nguồn thức ăn, thành phần dinh dưỡng hay phương thức quản lý, giám sát điều kiện môi trường nuôi vẫn sẽ được tiếp tục thực hiện. Để làm được điều đó, những nghiên cứu hiện nay ở cấp độ cơ thể hay hệ cơ quan của cơ thể sinh vật là chưa đủ, bởi những thay đổi dù nhỏ nhất xảy ra do phản ứng với các yếu tố bên ngoài luôn bắt đầu từ cấp độ tế bào - trong đó hệ máu ở cá. Cũng như ở rất nhiều loài sinh vật bậc thấp hay bậc cao khác, máu là môi trường lỏng xuyên suốt cơ thể, vận chuyển dinh dưỡng, oxy, hoormon, enzyme, các hoạt chất giúp duy trì mọi cân bằng trong cơ thể và trao đổi với môi trường bên ngoài. Hiện nay, vấn đề nghiên cứu về huyết học cá biển sống trong điều kiện lồng nuôi ngoài biển và trong lồng nhân tạo nước ngọt còn ít được chú ý.
Nhiều nghiên cứu về huyết học cá của các tác giả trên thế giới áp dụng trong điều kiện thí nghiệm trong nhà hoặc với các loài cá nước ngọt. Nuôi cá hồng mỹ trong điều kiện môi trường tự nhiên (có thủy triều lên xuống) hoặc môi trường nhân tạo (lồng nuôi bằng nước ngọt), cùng với kết hợp sử dụng chế độ thức ăn khác nhau. Đây là một trong những vấn đề mà rất ít người dân nuôi cá hồng mỹ thương phẩm để ý tới. 2 Kết quả nghiên cứu mới đây nhất của đề tài do Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga chủ trì đã cho thấy, các chỉ tiêu kim loại nặng quan trọng đều phù hợp với quy định, tiêu chuẩn an toàn của Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với nước nuôi trồng thủy sản nhưng tỷ lệ biểu hiện rối loạn hình thái tế bào hồng cầu của loài cá hồng mỹ luôn ở mức cao, tại Hà Tĩnh lên tới 87% [68-70].
Điều này cho thấy, mặc dù các yếu tố sinh trưởng, phát triển của cá hồng mỹ “trông có vẻ bình thường” trong môi trường nuôi lồng bè ở các địa điểm mà đề tài đã nghiên cứu, nhưng thực tế, ở cấp độ tế bào, loài cá này đang có những phản ứng rõ rệt với điều kiện xung quanh, đó có thể là chế độ, thành phần thức ăn, có thể là do sự tác động tổng hợp của các kim loại nặng (mặc dù hàm lượng đều rất thấp) hay những yếu tố môi trường khác mà đề tài chưa xét đến. Nghiên cứu này được xây dựng trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu gần đây [68-70] và thực hiện nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa điều kiện môi trường nước, chế độ thức ăn đến khả năng sinh trưởng của cá hồng mỹ, đồng thời làm rõ nguyên nhân gây ra những rối loạn hình thái tế bào hồng cầu của loài này tại khu vực Hà Tĩnh, Việt Nam. Đồng thời xem xét kỹ hơn mối liên hệ giữa điều kiện môi trường nuôi cá lồng và chế độ dinh dưỡng với các đặc điểm huyết học của loài Sciaenops ocellatus này. Từ đó bổ sung thông tin, cải tiến kỹ thuật nuôi hay khắc phục, giảm thiểu phản ứng tiêu cực của cá, đưa chúng trở về trạng thái sức khoẻ bình thường sẽ giúp nâng cao hiệu suất tăng trưởng, phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cho hoạt động nuôi cá hồng mỹ thương phẩm.
Với những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đặc điểm hình thái và huyết học cá hồng mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) nuôi lồng bè trong điều kiện bán tự nhiên và nhân tạo tại Hà Tĩnh” với các mục tiêu: + Đánh giá tổng hợp yếu tố môi trường và thức ăn ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus). + Đánh giá tổng hợp sự biến đổi, khác biệt về hình thái, đặc điểm huyết học cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus) trong các điều kiện môi trường và loại thức ăn khác nhau. Đặc điểm sinh học, sinh thái của cá hồng mỹ 1. Nguồn gốc Cá hồng mỹ có tên khoa học là Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766), là loài cá rộng muối, khả năng thích nghi cao nên rất phổ biến.
Ban đầu được nuôi chủ yếu miền Bắc, do là loài cá dễ nuôi, có thể sống được trong môi trường lợ và mặn và chịu lạnh tốt, sau đó thịnh hành vào miền Nam. Nguồn gốc cá hồng mỹ xuất phát từ nước ngoài, chúng phân bố nhiều ở Vịnh Mexico và vùng duyên hải Tây Nam nước Mỹ thuộc vùng biển Đại Tây Dương, chúng cũng được tìm thấy ở các vùng nước đại dương ôn đới và nhiệt đới. Đầu những năm thập kỉ 90 của thế kỉ trước, cá hồng mỹ được di nhập vào nuôi ở một số nước Châu Á như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc,… và nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi quan trọng. Đầu tiên là Trung Quốc, năm 1991 đã nhập cá hồng mỹ từ nước Mỹ, qua 4 năm nghiên cứu, năm 1995 đã thành công trong việc nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm.
Đối với Việt Nam, năm 1999 lần đầu tiên cá bột hồng mỹ được nhập vào Việt Nam, 400.000 con cá bột được Viện Nghiên cứu Hải sản triển khai thí nghiệm nuôi thương phẩm và tuyển chọn cá bố mẹ. Sau 4 năm (năm 2003), Trạm Nghiên cứu Thuỷ sản Nước lợ - RIA.1 đã sản xuất thành công, công nghệ sản xuất giống nhân tạo được chủ động, đáp ứng được phần lớn nhu cầu con giống phục vụ nuôi nội địa [15]. Chúng có khả năng thích nghi với nhiều điều kiện bất lợi của môi trường sống, đặc biệt là nhiệt độ thấp nên được nuôi phổ biến bằng lồng bè ở vùng biển các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh thành miền Nam. Hiện nay chúng đã trở thành đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao trong nước, tăng thu nhập góp phần nâng cao đời sống người dân [19].
Hệ thống phân loại Sắp xếp đến họ theo hệ thống của W.N Eschmeyer’s Catalog of fishes - version of 6 November 2023 [96], loài trong họ tham khảo theo marinespecies. Đặc điểm sinh học, sinh thái Tập tính sống Cá hồng mỹ sống trong các hồ chứa nước làm mát nhà máy điện, hồ nội địa có nước cứng (hàm lượng canxi và/hoặc magie cao) và trong một số hồ chứa có độ mặn thấp ở Tây Texas. Chúng sống thành đàn, phân bố phạm vi rộng, khi trưởng thành thường đi đến những vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản, nhiệt độ từ 10 - 30oC, thích hợp nhất là từ 18 - 25oC. Đồng thời, chúng là loài cá rộng muối, có thể sinh sống ở cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn [21].
Chúng sống vùng đáy ven bờ, nơi có dòng nước ấm: vùng đáy cát, vùng đá ngầm, cũng có thể thấy chúng sống vùng hỗn hợp bùn cát hoặc vùng đá san hô chết.