Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về cây Sơn tra trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Những nghiên cứu về cây Sơn tra trên thế giới 1. Đặc điểm hình thái B. Schubert et al (1964) nêu thông tin một chi liên quan chặt chẽ với chi Docynia là chi Chaenomeles (chi Mộc qua) đặc điểm khác biệt giữa 2 chi này là số lượng chỉ nhị trong hoa của Docynia từ 30 – 50, trong chi Chaenomeles là 40 – 60 chỉ nhị.
Mặc dù sự khác biệt là không lớn về số lượng chỉ nhị giữa 2 chi, nhưng đây là tài liệu tham khảo quan trọng để phân biệt nhận biết loài Sơn tra với các loài khác thuộc chi Mộc qua. Đặc điểm hình thái Sơn tra, các tác giả Amal Bhusan Chaudhuri (1993), HOOKER, J. Bose et al (1998) mô tả là cây gỗ nhỡ, cao đến 20 m. Vỏ cây màu nâu hoặc xám, có đốm trắng.
Cành non, lá non và cụm hoa có phủ một lớp lông tơ dày đặc. Lá cây non xẻ thùy và gần như nhẵn. Lá trưởng thành hình trứng hay hình mũi mác, dài 5-10 cm, nhọn, một phần hoặc toàn bộ mép lá có đường răng cưa nhỏ. Quả có màu xanh khi chín có màu xanh vàng, khi chín màu vàng lục có đốm đỏ, đường kính khoảng 4 cm.
Những thông tin mô tả đầy đủ đặc điểm hình thái và kích thước, tuy nhiên cũng mang tính cơ bản khó nhận biết ngoài thực tế. Đặc điểm phân bố, sinh thái Amal Bhusan Chaudhuri (1993) nghiên cứu thực vật bản địa của Ấn Độ đã cho thấy Sơn tra có ở vùng Kalimpong với tên địa phương là: Indian crab apple; Assam - Sohphoh; Khasi - sohphoh; Nep - mehel. Peter Hanelt et al (2001) cho biết trên thế giới Sơn tra phân bố ở dãy núi Himalaya, gồm các khu vực: Nepal, Sikim, Bhutal; Assam, Manipur; một phần phía Bắc của Myanmar, Thailand, Việt Nam, Tây Nam Trung Quốc, mọc tại những vùng có độ cao trong khoảng 1. Sundrial (2003) thuộc Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển Himalaya, Ấn Độ, trong nghiên cứu về các loài cây ăn được, mọc tự nhiên ở vùng Sikkim của dãy Himalaya, đã lựa chọn Sơn tra là một trong 6 loài cây tiềm năng 5 để thuần hóa.
Nghiên cứu cho thấy Sơn tra có phân bố ở độ cao 900 – 1800 m, mọc chủ yếu ở phía Đông của dãy Himalaya, thuộc các vùng Nepal, Sikkim, Darjee-ling và Bhutan. Các loài cây bạn mọc cùng với Sơn tra ở khu vực này chủ yếu là Hồ Đào (Juglans regia), Chè súm (Eurya acuminata), Mai anh đào (Prunus cerasoides), Dẻ gai Ấn Độ (Castanopsis indica),. trên trạng thái rừng phục hồi. Sambamurty (2005) trong cuốn Taxonomy of Angiosperms mô tả Sơn tra là một cây được tìm thấy ở phía Đông dãy Himalaya và những ngọn đồi Khasia của Ấn Độ, là một trong những loại cây có quả ăn được.
Jingyun Fang et al (2011) đã lập Atlat họ Hoa hồng (Rosaceae) tại Trung Quốc, có 947 loài thuộc 40 chi, trong đó có chi Docynia với 2 loài gồm Docynia indica Wall.) và Docynia Delavayi (Franch. Trong bản đồ của Atlat cho thấy Sơn tra có phân bố chủ yếu ở tỉnh Vân Nam và một phần nhỏ tại tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc, không thể hiện các khu vực khác trên thế giới. Các nghiên cứu về giá trị sử dụng J. Siemonsma (1989) mô tả Sơn tra cùng với 22 loài quả khác được sử dụng như là rượu bổ, đồ uống và rượu để tăng cường tiêu hóa, ho, hen suyễn và suy nhược và là một nguồn vitamin C.
Chen Jin et al (1999), thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc tỉnh Vân Nam trong nghiên cứu về thực vật học trái cây ăn được ở miền nam Vân Nam, đã xác định được danh mục 123 loài cây trong đó có Sơn tra được người dân địa phương sử dụng làm thực phẩm. Nghiên cứu cũng cho thấy, đời sống của người dân địa phương vấn mang tính tự cung tự cấp, trong một số trường hợp, người dân địa phương đã chặt cây hoặc các cành nhánh để lấy quả ở phía trên của tán cây. Tuy nhiên, các hoạt động này ít gây ảnh hưởng đến tính bền vững của các nguồn tài nguyên bởi nhu cầu không cao. Mei Wenquan et al (2002) phân tích về thành phần trái cây Sơn tra thu thập từ Thành phố Lệ Giang, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chất và hợp chất protein thô, Ca, P, K, proline và aspartate, cao hơn so với các loại trái cây phổ biến khác. Các tác giả Manju Sundryal, R. Sundriyal (2003) phân tích hàm lượng các chất trong quả Sơn tra thu hái tại vùng Sikkim của dãy Himalaya thu được kết quả: 6 3,03% Ash; 1,75% Protein; 0,35% Fat; 71,73% Carbohydrate; 12,89% Đường tổng số; 0,142% P; 0,033% Na; 0,431% K; 0,124% Ca. Nghiên cứu cũng cho biết dịch chiết của quả Sơn tra được người dân bản địa nấu thành cao, có tác dụng chữa bệnh rối loạn tiêu hóa rất tốt.
Jyoti Prakash Tamang et al (2005) nghiên cứu thống kê trong số 128 loài thực vật hoang dã ăn được, thu thập từ những nơi khác nhau trên dãy Himalaya của bang Sikkim, Ấn Độ, với 63 loài thực vật hoang dã có trái cây ăn được trong đó có Sơn tra. Nghiên cứu cũng đã phân tích thành phần dinh dưỡng quả Sơn tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4% Ash, 6,7% Fat, 32,2% Protein và 57,1% Carbohydrate. Hàm lượng Na, Kali và Canxi tương ứng trên 100g quả sấy khô là 15,3 mg, 202,8 mg và 200,5 mg.
Yash Paul Singh, Geeta Sumbali (2012) nghiên cứu về độc tố Penicillium trong trái cây Sơn tra thối sau thu hoạch đã chỉ ra rằng, hai chất độc Penicillium gồm Patulin và Citrinin đã được tìm thấy trong trái Sơn tra chín thối. Cả hai chất độc đã được phát hiện với hàm lượng rất cao. Patulin được phát hiện lên đến 36 mg/kg quả; trong khi mức Citrinin có hàm lượng thấp hơn (6 mg/kg quả). Hàm lượng này là rất cao so với WHO khuyến cáo mức độ chịu đựng.
Công trình nghiên cứu này cũng đề nghị cần có phương pháp thu hái, bảo quản phù hợp và phân loại Sơn tra trước khi phân phối ra thị trường, không sử dụng những quả bị dập, thối. Jubilee Purkayastha (2016) mô tả Sơn tra là loài cây mọc hoang tại vùng Đông Bắc Ấn Độ. Quả được người dân bản địa sử dụng từ lâu đời dùng làm thực phẩm theo các cách: ăn tươi, phơi khô, nước ép quả, làm mứt,… Shende KM et al (2016) đã nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa từ dịch chiết quả Sơn tra. Quả Sơn tra được thu thập từ vùng Maipur của Ấn Độ, thành phần hóa học dịch chiết methanol từ quả được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ phenol (phenolics) cao hơn ở trái cây chưa trưởng thành (tối đa 196,15 mg axit gallic/gram chiết xuất) và flavonoids (lên đến 100,49 mg rutin/gram chiết xuất) phụ thuộc vào dung môi sử dụng để chiết xuất. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các hợp chất chống oxy hóa và kháng khuẩn có trong của dịch chiết quả Sơn tra cho biết tiềm năng của nó đối với việc dùng làm chất bảo quản thực phẩm. Các nghiên cứu về chọn giống, nhân giống, gây trồng Joseph D. Postman (1994) nghiên cứu chọn gốc ghép cho 3 giống của loài Lê Pyrus communis (Beurre Bosc, Bartlett, Passe Crassane) đã thử nghiệm ghép trên gốc ghép cây Sơn tra.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ sống cành ghép của 10 lần lặp trong thí nghiệm đều cao hơn 70%, đây là vấn đề cần nghiên cứu thử nghiệm để tạo giống Lê ghép phù hợp để trồng cho vùng cao Tây Bắc Việt Nam. Rai et al (2005) đưa Sơn tra vào danh mục loài cây trồng cho quả tiềm năng của vùng Đông Bắc dãy Himalaya. Các tác giả cũng cho biết, đôi khi cây Sơn tra được sử dụng làm gốc ghép cho Táo “apple”, khi ghép sẽ tạo ra cây bán lùn (semi-dwarf). Công bố này không đưa ra kết quả nghiên cứu ghép và chưa chỉ rõ cành ghép là loài Táo nào, nên thông tin chỉ mang tính tham khảo.
Elliott (2008) trong quá trình điều tra nghiên cứu phương pháp phục hồi rừng ở Chiang Mai – Thailand đã thấy Sơn tra được trồng xen với Thông ba lá (Pinus kesiya), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Mai anh đào (Prunus cerasoides D. Đặc điểm lập địa khu vực trồng có độ cao tuyệt đối khoảng 1.200 m, lượng mưa trung bình năm 1.210 mm/năm, nhiệt độ bình quân năm khoảng 210C, mùa mưa từ tháng 5 – 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mặc dù khu vực trồng có vị trí, điều kiện lập địa rất gần với nơi phân bố và đặc điểm sinh thái của loài (Amal Bhusan Chaudhuri, 1993; Peter Hanelt, R. Büttner, Rudolf Mansfeld, 2001), nhưng Sơn tra trồng tại khu vực này chỉ cao khoảng 50 cm sau nhiều năm trồng (không tìm thấy hồ sơ năm trồng), nguyên nhân cây kém phát triển các tác giả đưa ra có thể do vị trí gần bãi chăn thả tự do nên bị gia súc phá hoại hoặc kỹ thuật lâm sinh chưa phù hợp.
Những nghiên cứu về cây Sơn tra ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về phân loại và phân bố của cây Sơn tra Để giúp phân biệt Sơn tra với một số loài có cùng tên gọi tác giả Đỗ Tất Lợi (1962) trong công trình Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, đã mô tả 4 loài cây mang tên Sơn tra: (i) Bắc sơn tra (Crataegus pinnatifida Bunge); (ii) Nam sơn tra hay Dã sơn tra (Crateagus cuneata Sieb.et Zucc), hai loài Bắc sơn tra và Nam sơn tra không có phân bố tại Việt Nam; (iii) cây Chua chát, còn gọi là Sán sá, có tên khoa học 8 là Malus doumeri Bois (Chev.) hay Docynia doumeri Bois (Schneid), thuộc họ Hoa hồng. Cây này cao 10 - 15 m, cây non có gai. Lá nguyên hình bầu dục dài 6 - 15 cm, rộng 3 - 6 cm, mép khía răng cưa.
Hoa hợp thành tán từ 3 - 5 hoa. Hoa mẫu 5, cánh màu trắng. Quả tròn hơi dẹt, khi chín ngả màu vàng lục, đường kính 5 - 6 cm, cao 4 - 5 cm, vị hơi chua chát. Mùa hoa tháng 1 - 2, mùa quả chín tháng 9 - 10.
Cây này có phân bố ở Lạng Sơn, người dân đem sang Trung Quốc bán với tên Sơn tra; (iv) Sơn tra (Docynia indica Wall.) được gọi dưới tên “Táo mèo”, mọc hoang và được trồng ở Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai ở độ cao trên 1. Các thông tin mô tả trong tài liệu giúp phân biệt được 4 loài mang tên Sơn tra tại Việt Nam và Trung Quốc.