Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết của phân cấp ngân sách và tham nhũng. Điểm qua các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả số liệu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả phân tích kết quả thống kê mô tả, kết quả hồi quy và đưa ra các thảo luận của kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trình bày tóm tắt các kết quả đã đạt được. Đề ra các kiến nghị và hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 7 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày nội dung gồm: Phần thứ nhất là sơ lược các khái niệm về phân cấp ngân sách, khái niệm tham nhũng, khái niệm về các nước đang phát triển; Phần thứ hai là cơ sở lý thuyết về phân cấp ngân sách và tham nhũng sẽ được áp dụng trong luận văn; Phần cuối chương, tác giả tổng hợp một số nghiên cứu trước về phân cấp ngân sách và tham nhũng.
Khái niệm về phân cấp Hiện nay, có một số quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm “phân cấp”. Theo một số tác giả, phân cấp chính là phân quyền giữa Trung ương và địa phương. Phân cấp là phân ra, chia thành các cấp, các hạng. Phân cấp có sự chuyển giao quyền lực quản lý xuống các cấp dưới để thực hiện cho sát dân và sát tình hình thực tiễn, đồng thời để giảm bớt khối lượng cho cấp trên khỏi phải trực tiếp giải quyết những việc sự vụ.
Việc phân cấp phải gắn trách nhiệm với quyền hạn rõ ràng và bảo đảm tính thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Có quan niệm khác cho rằng, phân cấp có thể theo hai hướng: một hướng nằm ngang là sự phân chia căn cứ vào sự khác nhau của các công việc của một cấp; hướng nằm dọc (thẳng đứng) là sự phân chia theo cơ cấu thứ bậc công việc giữa các cấp khác nhau. Có ý kiến cho rằng, cần phân biệt “phân cấp quản lý” với một số khái niệm gần với nó là phân công, phân nhiệm, phân quyền vì “phân công và phân nhiệm đều để chỉ sự xác định quyền hạn, trách nhiệm cả theo chiều ngang và chiều dọc. Thông thường, người ta sử dụng khái niệm phân công để chỉ quan hệ theo chiều ngang với dụng ý phân biệt nó với phân cấp.
Nếu phân quyền được hiểu là phân giao quyền hạn cho một cơ quan hoặc một cấp chính quyền nào đấy thì thực ra sử dụng thuật ngữ phân công và phân cấp là đầy đủ và chính xác hơn”. Như vậy, cho đến nay, mặc dù được sử dụng một cách rộng rãi, song cách hiểu về phân cấp còn chưa hoàn toàn thống nhất. 8 • Phân cấp là một sự chuyển giao quyền lực về chính trị và luật pháp đối với công tác xây dựng chính sách, lập kế hoạch, quản lý và phân bổ các nguồn lực tài chính từ chính quyền TW đến các chính quyền địa phương. • Nội dung cơ bản của phân cấp bao gồm: phân cấp về chính trị, phân cấp về hành chính và phân cấp về quản lý ngân sách nhà nước.1: Khái niệm và các khía cạnh ngân sách Phân cấp Phân cấp Phân cấp Phân cấp Phân cấp về chính trị về hành chínhPhân cấp về ngân sách về thị trường Phi tập Uỷ Phân trung quyền quyền Uỷ Phân Hoạch Thực Giám sát, Kiểm toán, Tài trợ quyền quyền định hiện kiểm soát đánh giá Kiểm toán, Tài trợ đánh giá Nguồn: Tổng hợp của tác giả Thực hiện Nguyễn Minh Đoan (2012), phân cấp (decentralization) là việc phân công chức năng, phân định nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp hành chính để việc quản lý đất nước được thuận lợi và hiệu quả hơn.
Bản chất của phân cấp là việc cấp trên chuyển giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định do mình đang nắm giữ cho cấp dưới thực hiện một cách thường xuyên, liên tục bằng phương thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc bằng cách chuyển cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng các quyết định cụ thể. Theo các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Đại hội Đảng IX, phân cấp được đặt trong bối cảnh “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy 9 dân chủ, tăng cường pháp chế”. Nghị quyết cũng xác định “phân cấp mạnh và toàn diện giữa các cấp trong hệ thống hành chính nhà nước” là một trong những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm “đẩy mạnh cải cách hành chính” là công việc quan trọng quyết định thành công của công cuộc đổi mới giai đoạn 2001 - 2005. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX - NXB.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. Khái niệm về phân cấp ngân sách Hình 2.2: Khái niệm phân cấp ngân sách Phân định nhiệm vụ thu Xây Phân định dựng hệ nhiệm vụ chi thống tài khóa Phân cấp ngân sách giữa Khoản trợ cấp các và chuyển giao chính quyền Vay nợ chính quyền địa phương Nguồn: Tổng hợp của tác giả Theo lý thuyết truyền thống của Musgrave: lý do cơ bản của phân cấp ngân sách xuất phát từ hiệu quả kinh tế, lợi ích của việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng được giới hạn về không gian, phù hợp với sở thích của người dân địa phương. Nhờ phân cấp, người dân sẽ bộc lộ sở thích thông qua “ bỏ phiếu vì quyền lợi của mình”. Hàng hóa công cộng địa phương sẽ làm gia tăng phúc lợi so với trường hợp chỉ có một cấp duy nhất cung cấp các dịch vụ công cộng trong toàn bộ nền kinh tế.
Oates (1972), mỗi dịch vụ công cộng phải được cung cấp bởi một chính quyền có khả năng kiểm soát một khu vực địa lý tối thiểu, trong đó lợi ích và chi phí của hoạt động cung ứng này được giới hạn trong khu vực đó. Thông qua phân 10 cấp, chế độ dân chủ ở địa phương được phát huy, góp phần vào quá trình dân chủ hóa của xã hội. Tiebout cho rằng khả năng của các cá nhân để di chuyển giữa các khu vực quản lý của chính phủ tạo ra một giải pháp giống thị trường đối với vấn đề hàng hóa công địa phương. Các cá nhân bỏ phiếu bằng chân và ở lại cộng đồng mà đem lại nhiều dịch vụ công cộng và thuế mà họ thích nhất.
Phân cấp ngân sách là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước về trách nhiệm và quyền hạn trong việc quyết định và quản lý hoạt động thu, chi ngân sách từ Trung ương đến địa phương, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được pháp luật qui định. Phân cấp ngân sách là sự chuyển giao trách nhiệm và quyền hạn từ cấp TW đến các cấp chính quyền bên dưới trong việc quyết định và quản lý ngân sách nhà nước, đảm bảo cho các cấp chính quyền có sự tự chủ nhất định về tài chính để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Phân cấp về ngân sách được hiều là sự phân bổ trách nhiệm quản lý về nguồn ngân sách giữa các cấp chính quyền. Phân cấp về ngân sách thể hiện dưới nhiều dạng như: cho phép chính quyền địa phương tự chủ về tài chính (tự hạch toán kinh phí thu, chi); chính quyền Trung ương và địa phương cùng thực hiện các hoạt động tài chính; cho phép chính quyền địa phương được đặt ra một số khoản thuế, lệ phí hoặc hưởng toàn bộ hay một phần các khoản thu từ thuế, lệ phí…ở địa phương; chuyển một phần khoản thu từ thuế mà chính quyền Trung ương thu được cho chính quyền địa phương sử dụng; bảo lãnh hoặc cho chính quyền địa phương vay… 2.
Tham nhũng 2. Khái niệm tham nhũng Tham nhũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng định nghĩa phổ biến nhất và đơn giản nhất của tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực ở khu vực công để sở hữu hoặc chiếm đoạt lợi ích dành cho cá nhân. Trong định nghiã này, sự lạm dụng quyền lực ở khu vực tư nhân được loại trừ, không đề cấp đến (Tanzi 1998, trang 8 được trích bởi Võ Hồng Đức và các đồng sự (2014)). 11 Bên cạnh đó, tham nhũng gây ra rất nhiều các phí tổn khác nhau.
Đầu tiên, tham nhũng là rào cản chính của nền dân chủ, xã hội không thể chấp nhận các thể chế hoặc tổ chức sử dụng nguồn lực công cho những lợi ích cá nhân. Thứ hai, các quan chức tham nhũng thường phân phối lại những nguồn lực công khan hiếm vào cơ sở hạ tầng công cộng như trường học, bệnh viện nhưng chất lượng thấp hơn và không tương xứng với chi phí được thanh toán cho công trình đầu tư. Thứ ba, tham nhũng gây trở ngại việc phát triển thị trường công bằng và bóp méo sự cạnh tranh trong nền kinh tế. Thứ tư, tham nhũng còn gây ra nhiều tổn hại cho thể chế chính trị và nền kinh tế, ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội như giảm lòng tin nhân dân với thể chế và lãnh đạo chính trị (Transparency International, 2009).
Tham nhũng là lạm dụng công quyền để tư lợi (Word bank, 2014), định nghĩa này cho rằng căn nguyên của tham nhũng xuất phát từ công quyền và lạm dụng công quyền, tham nhũng gắn liền với nhà nước và các hoạt động của nhà nước, việc nhà nước can thiệp vào thị trường và từ sự tồn tại của khu vực công. Nói cách khác, khái niệm này loại trừ khả năng tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân, và chỉ tạp trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công. Như vậy, một định nghĩa tổng quát hơn thể hiện rằng tham nhũng là hành động cố ý không tuân thủ các quy tắc công minh mà dựa vào quyền lực để trục lợi cho cá nhân hoặc cho những người liên quan đến hành động đó. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi (Luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam năm 2005).
Theo Elliot (1997), Gray và Kaufmann (1998), tham nhũng có khuynh hướng làm giảm thu nhập của chính phủ bởi vì tiền của công chúng chảy vào túi riêng. Tham nhũng cấu kết với doanh nghiệp sẽ làm gia tăng các hoạt động trốn thuế. Hơn nữa, tham nhũng có khuynh hướng thích chi tiêu tiền công vì khi chi tiêu nhiều sẽ tạo ra cơ hội tham nhũng nhiều hơn.