Chương I: Nghiên cứu tổng quan Trình bày lịch sử và quá trình phát triển của nghiên cứu nhân trắc học trong và ngoài nước. Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng điều tra khảo sát. Chương II: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Đưa ra phương pháp đo, phương pháp nghiên cứu, xác định các mốc đo và các kích thước cần đo. Lập nên quy trình đo và các tiêu chuẩn kiểm tra khi đo.
Nêu lên phương pháp xử lý kết quả đo: loại số thô, số lạc, thống kê các số liệu và tính tương quan các kích thước. Chương III: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chứng minh ba kích thước Chiều cao cơ thể, vòng ngực II, vòng mông là phân bố chuẩn. Nghiên cứu từng bộ phận của phần trên cơ thể: Chiều cao, cổ, vai, ngực + lưng, bụng + mông, tay. Điểm mới của luận văn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị ở cả hai lĩnh vực khoa học và thực tiễn.
Cụ thể là: - Chọn được kích thước chính là chiều cao cơ thể, vòng ngực II, vòng mông. - Xây dựng được các phương trình hồi quy tuyến tính thể hiện tương quan giữa các kích thước chính và kích thước phụ thuộc. Phạm Thị Kim Phúc 11 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Khóa 2010 – 2012 Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Đánh giá được đặc điểm hình dáng các bộ phận: cổ, vai, ngực, lưng, bụng, mông và tay của trẻ em gái lứa tuổi tiểu học. Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang Phạm Thị Kim Phúc 12 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Khóa 2010 – 2012 Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội CHƢƠNG I: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.
Nhân trắc học 1. Lịch sử phát triển nhân trắc học Ngay từ ngàn xưa những khái niệm về hình thái và thể lực cơ thể thực chất đã được hình thành. Những khái niệm này ngày càng được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện hơn để trở thành những bộ phận chủ yếu cấu thành môn nhân trắc học Trong suốt quá trình hình thành và phát triển con người mới chỉ làm nhân trắc tùy hứng tự phát, coi đó là tự nhiên là mặc định chứ không coi trọng nó nên nhân trắc học lúc này chưa trở thành một môn khoa học thật sự. Đến đầu thể kỷ XX nhà khoa học R.Fisher bước đầu đã xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng vào y học.
Khi đó mọi người mới hiểu được tầm quan trọng của nhân trắc học vào phục vụ đời sống, phục vụ cho những sáng tạo khoa học. Từ đó đến nay thì nhân trắc học đã có những bước tiến đáng kể với sự áp dụng những kỹ thuật hiện đại của các ngành khoa học khác nhau, Các nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này trên thế giới ngày càng tăng [10]. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Rudolf Martin một nhà nhân trắc học người Đức. Ông đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ để đo đạc kích thước cơ thể con người và vẫn được áp dụng đến ngày nay đó là bộ thước đo Martin.
Ngoài ra ông đã xuất bản 2 cuốn sách “Giáo trình về nhân học” (1919) và Cuốn “Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”. Hai cuốn sách này của ông được coi là định hướng cho nhân trắc học và ông được coi là người đặt nền móng cho môn khoa học nhân trắc học hiện đại [7]. Năm 1964, nhà nghiên cứu nhân trắc học BaLan đã nhận định khi đi sâu nghiên cứu sự liên hệ giữa hình thể cơ thể và chức năng cơ thể tỉ lệ thuận với nhau, quá trình hình thành phát triển cơ thể chịu ảnh hưởng của lao động. Đó chính là giá trị cơ bản hình thành quan điểm ngành công nghiệp may khi nghiên cứu các dạng hình thể cơ thể người: các kích thước cơ bản, các kích thước phụ thuộc và các dạng hình thái cơ thể [6].
Phạm Thị Kim Phúc 13 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Khóa 2010 – 2012 Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Cũng trong năm 1964 một thầy thuốc người Bỉ ông F.Vandervael đã viết cuốn giáo khoa về nhân trắc học. Trong đó ông đưa ra những nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực với các đặc trưng thống kê như trung bình (M) và độ lệch chuẩn (σ) [7]. Năm 1971, với mục đích thống nhất hệ thống cỡ số phục vụ cho sản xuất quần áo may sẵn, các khối SEV đã mở rộng chương trình đo. Kết quả nghiên cứu trên của khối SEV đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cỡ số cơ thể nam giới, nữ giới và trẻ em [10].
Ngày nay nhờ vào sự hỗ trợ của thiết bị đo cơ thể người 3D, ứng dụng công nghệ chụp hình toàn bộ cơ thể người bằng tia lazer, thực hiện tính toán xử lý số liệu bằng máy tính trong một chu trình khép kín nên việc ứng dụng nhân trắc để nghiên cứu đặc điểm hình dáng cơ thể người trên cơ sở đó xây dựng hệ thống cỡ số càng có những bước tiến vượt bậc và cho kết quả tính toán nhanh và chính xác. Ứng dụng nhân trắc học vào ngành May. Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh, nhu cầu làm đẹp ngày càng tăng lên, các công ty may và cơ sở may công nghiệp nở rộ, hàng quần áo may sẵn phục vụ nội địa được mở rộng với kiểu dáng phong phú, chủng loại đa dạng tràn ngập thị trường. Việt Nam giờ đây đang là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế cao, ngành công nghiệp May trong lĩnh vực xuất khẩu nói chung và thị trường nội địa nói riêng cũng phát triển mạnh mẽ.
Việc nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người để xây dựng hệ thống cỡ số quần áo từ năm 1994 đã trở nên quá lạc hậu, mặt khác từ sau khi gia nhập WTO sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp May trong nước và giữa các doanh nghiệp may ở nước ta với các doanh nghiệp may ở nước ngoài càng trở lên khốc liệt. Một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất của ngành công nghiệp may vẫn là chưa xây dựng mới hệ thống cỡ số trang phục phù hợp với sự thay đổi kích thước hình thái cơ thể người Việt Nam hiện nay. Việc ứng dụng nhân trắc ở Việt Nam đã có hơn 30 năm nay nên việc ứng Phạm Thị Kim Phúc 14 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Khóa 2010 – 2012 Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội dụng nhân trắc để thiết kế các sản phẩm tiêu dùng đã đạt nhiều kết quả có giá trị và ngày càng phát triển. Năm 1945 – 1954, GS Đỗ Xuân Hợp cùng một số bác sĩ và sinh viên đã tiến hành nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội.
Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng nhân trắc vào xây dựng hệ thống cỡ số. Năm 1966, Ủy ban KH & KT Nhà nước đã đánh dấu sự phát triển trong nghiên cứu ứng dụng nhân trắc vào xây dựng hệ thống cỡ số ở Việt Nam bằng việc xây dựng, ban hành 02 tiêu chuẩn cỡ số đầu tiên có ứng dụng số đo nhân trắc. Hai tiêu chuẩn này đã đưa ra 15 cỡ số cho áo sơ mi và 3 cỡ số cho quần âu nam. Năm 1994, tiêu chuẩn VN - 5781, 5782 về phương pháp đo cơ thể người và hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo cho đối tượng từ trẻ sơ sinh; nam và nữ tuổi học sinh; nam và nữ tuổi trưởng thành đã được ban hành đánh dấu một bước phát triển cho ngành May Việt Nam [28], [29] Năm 1999, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam nữ trong độ tuổi lao động trên cơ sở đo nhân trắc cơ thể người" – Đề tài cấp Tổng công ty Dệt May Bộ Công nghiệp.
Năm 2000-2003, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quân trang bằng phương pháp đo nhân trắc" – Đề tài cấp Bộ Quốc phòng. Năm 2007-2008, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nam, nữ, trẻ em trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam", Viện Dệt May. Năm 2009, Đề tài KH "Xây dựng hệ thống cỡ số quần áo nữ trên cơ sở số đo nhân trắc người Việt Nam", Viện Dệt May. Nhìn chung việc ứng dụng nhân trắc học để xây dựng hệ thống cỡ số ở nước ta còn hạn chế vì chưa có thiết bị đo hiện đại nên vẫn sử dụng phương pháp đo truyền thống là chủ yếu.
Trong khi đó, ở các nước phát triển trên thế giới việc ứng dụng nhân trắc để xây dựng hệ thống cỡ số đã có những bước tiến vượt bậc đó là nhờ sự hỗ trợ của thiết bị đo cơ thể người 3D và thực hiện tính toán xử lý số liệu các kích thước bằng máy tính trong một chu trình khép kín cho kết quả rất nhanh và Phạm Thị Kim Phúc 15 Ngành Công nghệ Vật liệu Dệt may Khóa 2010 – 2012 Luận văn cao học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội chính xác. Đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em gái lứa tuổi tiểu học. Đặc điểm tâm sinh lý. Đặc điểm về hoạt động và môi trƣờng sống Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập.
Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động xã hội. Ngoài các hoạt động trên trẻ em tiểu học còn có những thay đổi kèm theo: - Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Các em luôn chú ý quan sát công việc của người lớn để bắt chiếc để thể hiện mình. - Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non nên đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập.
Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt. - Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể. Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.