Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc, phân loại và một số đặc điểm về hình thái của ong nội 1. Vị trí phân loại của ong mật Theo tác giả F.
Ruttner (1988) [45] ong mật thuộc - Ngành: Chân đốt (A. thropada) - Lớp: Côn trùng (Insecta) - Bộ: Cánh màng (Hymenoptera) - Họ: Ong mật (Apisdae) - Tộc: (Apini) - Giống: Ong mật (Apis) Trên thế giới có 9 loài ong cho mật còn ở nước ta có 4 loài chính: Số TT Tên khoa học Tên Việt Nam 1 Apis cerana Ong châu Á (ong nội, ong ruồi) 2 Apis mellifera Ong châu Âu (ong ngoại) 3 Apis dorsata Ong khoái hay ong gác kèo 4 Apis florea Ong hoa hoặc ong muỗi Riêng hai loài A. florae là loài dã sinh chưa được thuần hoá, mới dừng ở mức khai thác tự nhiên. Một trong những loài ong mật được nuôi phổ biến ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng là loài ong mật Apis cerana.
Dựa trên đặc điểm hình thái, phân bố địa lý loài ong nội (A. cerana) được chia thành 4 phân loài: A. cerana himalaya (Maa 1944) và A.et al n 5 (2001) chia ong nội thành 33 phân loài, trong đó có 9 phân loài có tên và 24 phân loài chưa được đặt tên: A. cerana hainanensis (Yun and Kuang 1982) và A.et al (2005), thu thập 58 đàn ong A.
cerana vùng phía tây dãy Himalaya với 27 chỉ tiêu hình thái được xử lí thống kê bằng phương pháp phân tích đa biến đã xác định được khu vực này có 2 nhóm là: Hindu Kush - Kashmir và Himachal Pradesh (dẫn theo Nguyễn Thị Thắm, 2010) [28]. Ở Việt Nam, từ năm 1978 đến nay đã nhiều tác giả nghiên cứu về hình thái ong A. cerana trên các địa phương khác nhau (Lê Đình Thái, Nguyễn Văn Niệm 1980 [27]; Nguyễn Văn Niệm, 1991 [21]. Qua phân tích các tác giả đã đi đến kết luận: Theo sự giảm về vĩ độ thì kích thước cơ thể ong nhỏ đi.
cerana ở miền Bắc có kích thước lớn hơn A. cerana ở miền Nam, ong ở Hoà Bình có kích thước lớn hơn ong ở Như Xuân - Thanh Hoá. Ong ở miền Bắc có một số chỉ tiêu thuộc về ong A. cerana cerana như chiều dài vòi hút của ong đực.
Một số chỉ tiêu khác như chiều dài/chiều rộng ô Radian, chiều dài cánh trước ong chúa lại thuộc về phân loài A. Do các chỉ tiêu phân tích còn ít, chỉ có 27 chỉ tiêu, trong đó ở ong thợ là 14 chỉ tiêu, trong khi ở nước ngoài phân tích từ 35-55 chỉ tiêu cho nên trong suốt thời gian đầu các nhà khoa học Việt Nam chưa khẳng định được ong A. cerana của ta thuộc phân loài nào. Đến năm 1992, các tác giả Nguyễn Văn Niệm và Trần Đức Hà mới kết luận: Ong A.
cerana miền Bắc thuộc phân loài A. Theo kết quả phân tích 4 mẫu ong ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Rutter, 1988 [50] cho biết: A. cerana ở miền Bắc thuộc phân loài A. cerana cerana nhưng các chỉ tiêu hình thái của ong A.
cerana cerana lại tách riêng ra một nhóm n 6 gần với A. Trên bản đồ phân loại ong A. cerana ở phía Nam nước ta thuộc phân loài A. Theo Nguyễn Văn Niệm, 1991 [21], ong A.
cerana ở miền Bắc có tầm vóc lớn hơn A. cerana ở miền Nam. Tổ chức xã hội của loài ong mật Apis cerena Ong mật có đặc tính sống thành xã hội điển hình nhất trong xã hội côn trùng. Đàn ong là một đơn vị sinh học hoàn chỉnh, mọi hoạt động trong xã hội là theo một sự phân công vô cùng chặt chẽ nhưng đồng thời cũng rất linh hoạt (Nguyễn Duy Hoan và cs, 2008 [15]).
Một đàn ong thông thường có một ong chúa (làm nhiệm vụ sinh sản), hàng vạn ong thợ trưởng thành và trong mùa hoạt động có vài trăm ong đực cùng với một số trứng, ấu trùng và nhộng sẽ nở thành ong thợ và ong đực. Có thể có những trường hợp đàn ong trong một thời điểm nào đó không có trứng, ấu trùng và nhộng do vào mùa Đông không có hoa, ong chúa tơ chưa giao phối, chưa đẻ hoặc do cách xử lý của người nuôi ong trong một số tổ nhất định. Khi ong chúa già và chết hoặc bị người nuôi ong mang đi nơi khác, đàn ong có thể tạo ra chúa mới. Người nuôi ong cũng có thể tạo ra chúa mới để thay thế cho những ong chúa đã già hoặc cho đàn ong bị mất chúa.
Ong đực thường không có mặt trong đàn ong vào những mùa ong chúa ngừng đẻ hoặc khan hiếm thức ăn. Trong đàn ong bao gồm 3 loại hình ong: Ong chúa, ong thợ và ong đực. Mỗi loại hình có một vị trí sinh học nhất định trong đàn nhưng gắn bó, ảnh hưởng lẫn nhau rất chặt chẽ (Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Đức Khảm, 1980 [23]). - Đời sống của ong thợ Vòng đời của ong mật trải qua 4 giai đoạn: Trứng, ấu trùng, nhộng và ong trưởng thành.
Trong cùng một đàn, thời gian phát triển của ong thợ, ong đực và ong chúa là khác nhau, giữa các loài có sự khác nhau lớn. Ở giai đoạn trứng, phôi phát triển nhờ hấp thụ chất dinh dưỡng từ lòng đỏ, giàu protein. Trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng được những con ong non n 7 nuôi bằng thức ăn đưa vào lỗ tổ. Ấu trùng tăng trưởng rất nhanh về kích thước cũng như về khối lượng, nhờ sự tăng của các tế bào cơ thể đến hàng nghìn lần kích thước ban đầu mà không có sự phân chia.
Ong thợ phát triển từ trứng trong những lỗ tổ gần như nằm ngang ở cầu ong. Những trứng nở thành ong thợ là những trứng đã được thụ tinh bằng tinh trùng của ong đực, dự trữ trong túi chứa tinh trong cơ thể ong chúa và được điều tiết theo phản ứng của ong chúa đối với kích thước lỗ tổ ong thợ. Những con ong thợ non làm nhiệm vụ “nuôi dưỡng”, thường xuyên tiết chất dinh dưỡng từ hạ hầu của chúng vào những lỗ tổ có ấu trùng. Thức ăn nuôi ấu trùng được tiết ra từ những tuyến hạ hầu và hàm trên của những con ong “nuôi dưỡng” (ong thợ non), giầu protein, vitamin và những chất dinh dưỡng cần thiết cho ấu trùng.
Phần lớn những chất dinh dưỡng đó chuyển hoá từ phấn hoa do ong “nuôi dưỡng” đã ăn. Thức ăn mà ong “nuôi dưỡng” để nuôi ấu trùng là “sữa ong thợ” khác với “sữa ong chúa” chỉ dành riêng cung cấp cho lỗ tổ có ấu trùng ong chúa. Thức ăn của ấu trùng ong thợ trong mấy ngày đầu có tỷ lệ đường thấp. Sau 2,5-3 ngày, thức ăn của ấu trùng thay đổi, có thêm mật và phấn, thành phần phấn hoa trong sữa ong thợ chỉ là phụ mà thôi.
Khi được 5 ngày tuổi, ấu trùng ngừng ăn và ong thợ vít nắp lỗ tổ. Khác với ấu trùng ong chúa, ấu trùng nằm trong lỗ tổ vít nắp không được ăn nữa. Khi đã phát triển đầy đủ thì ấu trùng tiết ra các sợi tơ để làm kén và trong quá trình kéo kén ấu trùng lộn một số vòng, ong thợ lộn 37 vòng, ong chúa lộn 40-50 vòng, ong đực lộn 40-80 vòng, mỗi vòng diễn ra khoảng một giờ hoặc non một giờ. Cuối cùng, ấu trùng ong thợ nằm dọc theo lỗ tổ, đầu hướng ra phía ngoài; nó thực hiện được n 8 sự chuyển mình này không phải vì phản ứng đối với trọng lực như ở ấu trùng ong chúa, mà vì nhận biết được sự khác nhau về cấu tạo và hình dạng của nắp và đáy tổ, đáy lỗ tổ hình thành bởi vách giữa hai lớp lỗ tổ của cầu ong.
Vài ba ngày sau khi nhả tơ, ấu trùng hoá nhộng và nhóm tế bào thứ hai trong cơ thể nhộng (vốn rất nhỏ và bất động trong giai đoạn ấu trùng) đột nhiên bắt đầu phân chí nhanh chóng. Những tế bào đó sẽ trở thành những mô của ong trưởng thành và tất nhiên sẽ thay thế toàn bộ các tế bào của ấu trùng. Sự phát triển từ ấu trùng thành nhộng không phải về kích thước mà về thay đổi cấu tạo của cơ thể để trở thành ong trưởng thành. Theo Eva Crane, 1990 [8], các giai đoạn phát triển của ong thợ, ong chúa, ong đực thuộc giống A.
cerana được mô tả qua bảng sau: Các giai đoạn phát triển của ong Apis cerana Giai đoạn phát triển (ngày) Loại ong Trứng Nở ra ấu trùng Vít nắp Nở thành ong Ong thợ 0 3 8 20-21 Ong chúa 0 3 8 15-16 Ong đực 0 3 9,5 23-24 Trong đó: - Nở ra ấu trùng: Là số ngày trứng nở ra ấu trùng - Vít nắp: Số ngày ấu trùng được vít nắp trong lỗ tổ - Nở thành ong: Số ngày ong trưởng thành nở ra khỏi lỗ tổ Khi ấu trùng ăn, nó tự sản sinh ra nhiệt; còn trong giai đoạn nhộng, nhiệt luôn được duy trì ở 350C nhưng hoàn toàn do những con ong che phủ ở mặt cầu. Cuối cùng, con ong non hình thành, lột bỏ lớp da nhộng, dùng hàm cắn nắp vít và chui ra ngoài, cơ thể màu xam xám và mềm yếu. Trong suốt quá trình phát triển từ trứng đến ấu trùng và nhộng, con ong chỉ ở trong từng lỗ tổ n 9 riêng, không hề có sự tiếp xúc với nhau. Đó là một điểm trái ngược rõ rệt với cuộc sống xã hội rất cao khi chúng là ong trưởng thành.
Khi chui ra khỏi lỗ tổ thì cấu tạo về mặt giải phẫu của một con ong trưởng thành đã hình thành và hoàn chỉnh. Nhưng sau đó nó phải trải qua thời kỳ phát triển hoàn toàn hệ thống các tuyến và bộ máy sinh dục. Thời kỳ này nó cần rất nhiều protein và những chất dinh dưỡng khác không phải là hydrat cacbon sẵn có trong phấn hoa. Mấy ngày đầu sau khi nở, ong thợ phải ăn đủ một số lượng phấn hoa có chất lượng cao để các tuyến có thể phát huy hết tiềm năng.
Tuổi thọ của ong thợ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó số lượng phấn hoa mà nó được ăn trong thời kỳ ong non và tổng số ấu trùng mà nó phải nuôi là hai yếu tố quyết định. - Đời sống của ong chúa Cũng như ong thợ, ong chúa được phát triển từ trứng được thụ tinh. Nhưng khác với ong thợ là ấu trùng ong chúa được những con ong nuôi dưỡng tiết ra và cho ăn những thức ăn khác với thức ăn của ấu trùng ong thợ. Những con nuôi dưỡng điều chỉnh lượng nước trong thức ăn, vì vậy cũng là điều chỉnh thành phần thức ăn của mỗi loại ong.