Chương 1: TỔNG QUAN Các hiệu ứng quang điện liên quan đến các hạt có trong hiện tượng phóng xạ photon và điện tử. Những nghiên cứu về dao động Brownian đã cung cấp phương tiện đầu tiên để đo kích thước của nguyên tử và thiết lập các cơ sở cho phép xoá tan những nghi ngờ về sự tồn tại của nguyên tử. Thông qua các nghiên cứu của mình về lý thuyết tương đối đặc biệt, Einstein đã đưa ra các khái niệm về tương đương khối lượng – năng lượng trong hình thức của một phương trình nổi tiếng E = mc2. Phương trình này tạo ra cơ sở để giải phóng lượng lớn năng lượng được lưu giữ trong các nguyên tử thông qua quá trình phân hạch hạt nhân.
Việc khởi công xây dựng các lò phản ứng hạt nhân trong năm 1942 của Enrico Fermi tạo ra con đường cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình bằng cách sử dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ. Một thập kỷ trước phát kiến của Einstein, thế giới đã chứng kiến việc phá hiện tia X của Roentgen, khám phá sự phóng xạ tự nhiên của Henry Becquerrel và khám phá về các điện tử của Thomson. Ba phát kiến này đã được công nhận là những sự kiện khởi nguồn đến vật lý hiện đại. Những hiện tượng phóng xạ tự nhiên, đặc biệt là với các khám phá về chế tạo hạt nhân phóng xạ nhân tạo, đã cung cấp một công cụ mạnh cho việc sử dụng các nguyên tử và phóng xạ với một loạt các ứng dụng hòa bình, đưa đến sự tiến bộ của nhân loại.
Sự tương tác giữa phóng xạ với vật liệu được thử nghiệm để thu thập các thông tin là cơ sở trong quá trình đo lường cho các ứng dụng phóng xạ và đồng vị phóng xạ. Có ba dạng cơ bản khác nhau của những ứng dụng những đồng vị phóng xạ và bức xạ. Dạng đầu tiên phụ thuộc vào hiện thực ảnh hưởng của bức xạ đến vật chất. Thuộc tính này được sử dụng trong liệu pháp ung thư phóng xạ, khử trùng các sản phẩm y học, sự chiếu xạ thực phẩm, tăng liên kết chéo trong polyme, v.
Những ứng dụng trong công nghiệp của chất đồng vị sử dụng những hiệu ứng của sự bức xạ trên vật liệu dẫn tới sự định giá những thuộc tính định tính và định lượng của vật chất. Hướng thứ ba của ứng dụng, như trong các hệ công nghiệp, thuỷ học hay sinh học được dựa vào nguyên lý vết. Mọi ứng dụng này đều yêu cầu những đồng vị phóng xạ hay nguồn bức xạ thích hợp. Nhiều dạng kỹ thuật đã được phát triển để thích hợp với các ứng 4 dụng khác nhau như chụp ảnh gamma, đánh giá hạt nhân, v.
Xử lý bức xạ công nghiệp đang mở rộng một cách nhanh chóng vùng sử dụng bức xạ năng lượng cao cho sự sản xuất các vật liệu công nghiệp mới và tốt hơn. Bức xạ năng lượng cao trong khi xuyên qua vật chất sẽ gây ion hóa và kích thích những phân tử. Sự xử lý bức xạ nhằm sử dụng một cách thành công những biến đổi hóa – lý này để sinh ra những sản phẩm mới có những tính chất được cải tiến. Về cơ bản, xử lý bức xạ công nghiệp bao gồm bắn phá các vật liệu bằng bức xạ năng lượng cao dưới những điều kiện được kiểm soát để đưa ra những thay đổi mong muốn trong vật liệu.
Trong quá trình chiếu xạ, thời gian chiếu có thể được kiểm soát bởi liều bức xạ, mà liều bức xạ có thể được đo một cách chính xác bằng việc kiểm soát cường độ dòng trong thời gian chiếu xạ. Việc chiếu xạ là nguyên nhân làm giảm thời gian sống của các hạt dẫn thiểu số cũng như thời gian phục hồi ngược trong các thiết bị bán dẫn. Mức độ của sự giảm phụ thuộc vào dạng, năng lượng và thông lượng của bức xạ sử dụng. Việc chiếu xạ cũng sẽ làm tăng độ sụt điện áp, một tham số quan trọng trong các thiết bị cao áp.
Độ sụt điện áp tới là một yếu tố quan trọng trong các thiết bị năng lượng cao, vì nó sẽ xác định sự tổn hao nhiệt lượng trong thiết bị trong suốt quá trình dẫn điện. Khi một vật liệu được chiếu xạ với bức xạ năng lượng cao, các khuyết tật hình thành sẽ đóng vai những trung tâm tái hợp và dẫn tới làm giảm hạt mang điện. Hầu hết ứng dụng của điốt yêu cầu sự thay đổi điện áp tối thiểu thành sự sụt điện áp tới với sự thay đổi thời gian chuyển mạch. Điều này có thể đạt được bằng cách chiếu điốt bởi bức xạ năng lượng cao.
Liều chính xác để làm giảm thời gian chuyển mạch mong muốn có thể tìm ra được bằng cách chiếu xạ những điốt với những liều khác nhau. Có nhiều nghiên cứu [1, 2] về các khía cạnh khác nhau của sai hỏng do dịch chuyển và tác dụng của nó đối với các vật liệu và thiết bị bán dẫn khi bị chiếu xạ đã được tiến hành cho bán dẫn Ge [4] và Si [5]. Đồng thời, đặc tính điện tử nhạy cảm với sai hỏng dịch chuyển trong bán dẫn Si và Ge khi bị chiếu xạ [6]. Các nghiên cứu về hiệu ứng bức xạ trên các thiết bị bán dẫn nhạy cảm với sai hỏng do dịch chuyển được tiến hành với các bóng bán dẫn lưỡng cực, pin mặt trời và các thiết bị ghép điện tích (CCD).
Nhiều bài báo được trình bày tại hội nghị NSREC [7] đã được đưa vào các hiệu ứng 5 sai hỏng dịch chuyển trong vật liệu bán dẫn số lượng lớn, điốt, pin mặt trời và các thiết bị quang điện tử khác, thiết bị vi sóng, JFE (Junction Field-Effect transistors), bóng bán dẫn lưỡng cực và bóng bán dẫn các mạch tích hợp lưỡng cực nguyên tố (TTL (Transistor-Transistor Logic)) và ECL (Emitter-Coupled Logic). Ngoài ra, các bài báo đề cập đến các hiệu ứng sai hỏng dịch chuyển trong pin mặt trời, thiết bị GaAs, máy dò hạt, quang điốt và bóng bán dẫn lưỡng cực. Trong giai đoạn 1993 – 2003, nhiều chủ đề đã được đề cập, bao gồm các hiệu ứng sai hỏng dịch chuyển trong vật liệu bán dẫn số lượng lớn, công nghệ lưỡng cực, pin mặt trời, máy quang điện tử, mảng hình ảnh khả dĩ, thiết bị hồng ngoại, thiết bị SiC, thiết bị GaAs, InP các thiết bị, đèn LED (Light-Emitting Điốts), điốt laser, máy dò hạt, HEMT (High Điện tử Mobility Transistors), photođiốt và GaN. Các lĩnh vực khác được xử lý bao gồm xác định NIEL (Non-Ionizing Energy Loss), tương quan sai hỏng và tác động hiệp đồng của bức xạ ion hóa và sai hỏng dịch chuyển.
Giai đoạn gần đây nhất (2003 – 2018), các nghiên cứu tập trung về hiệu ứng sai hỏng dịch chuyển trong SDRAM (Synchronous Dynamic Random-Access Memories) và các thiết bị ghi nhớ. Ngoài ra, còn có các phân tích và tính toán cơ bản về sai hỏng do dịch chuyển và ảnh hưởng của nó. Trong giai đoạn này, nghiên cứu tập trung vào sai hỏng dịch chuyển, mối tương quan của hiệu ứng trên các thiết bị được tạo ra bởi các hạt khác nhau (điện tử, proton và nơtron) được coi là chìa khóa quan trọng để hiểu rõ cơ chế sai hỏng [3], [8]. Các nguồn bức xạ Nguồn bức xạ được chia làm 2 loại chính là: (1) nguồn bức xạ hạt mang điện: gồm nguồn bức xạ điện tử nhanh và nguồn bức xạ các hạt mang điện nặng; (2) nguồn bức xạ không mang điện: gồm các nguồn bức xạ điện từ và nguồn bức xạ nơtron.
Nguồn bức xạ điện tử nhanh bao gồm các hạt beta phát ra từ phân rã hạt nhân cũng như các điện tử năng lượng cao sinh ra bởi các quá trình khác. Các hạt nặng mang điện là loại bức xạ bao gồm tất cả các ion có năng lượng cao với khối lượng bằng đơn vị khối lượng nguyên tử hoặc lớn hơn, như hạt alpha, proton, các sản phẩm phân hạch, hoặc các sản phẩm của các phản ứng hạt nhân,. Bức xạ điện từ cần quan tâm bao gồm tia X phát ra trong quá trình sắp xếp lại các điện tử của lớp vỏ nguyên tử, 6 tia gamma sinh ra do quá trình dịch chuyển điện từ của quá trình sắp xếp lại các nucleon trong hạt nhân. Tương tác của bức xạ ion hóa đối với chất bán dẫn Bức xạ ion hoá khi đi vào vật chất sẽ truyền năng lượng, kích thích và ion hoá các nguyên – phân tử.
Kích thích là quá trình nguyên tử hoặc phân tử hấp thụ năng lượng, chuyển về trạng thái năng lượng mới không bền vững (trạng thái kích thích) mà không có bất cứ điện tử nào bị bứt ra khỏi nguyên - phân tử. Nguyên tử hoặc phân tử kích thích dễ dàng và nhanh chóng phát xạ năng lượng đã hấp thụ được dưới dạng photon, bức xạ nhiệt hoặc phản ứng hoá học để trở về trạng thái ban đầu. Ion hoá là quá trình làm bật điện tử quỹ đạo của nguyên tử hoặc phân tử, tạo ra một cặp ion: ion âm (hoặc điện tử) và ion dương (phần còn lại của nguyên tử hoặc phân tử). Năng lượng trung bình để tạo một cặp ion trong không khí là 30 ± 5 eV, trong chất bán dẫn khoảng 3 eV.
Các quá trình vật lý khác nhau liên quan khi bức xạ tương tác với chất bán dẫn là khá phức tạp. Phần trình bày dưới đây được đơn giản hóa bằng cách nhấn mạnh tác động cuối cùng của các bức xạ trên các linh kiện bán dẫn. Hiệu ứng ion hóa Quá trình đầu tiên là sự ion hóa. Đối với các hạt mang điện thì khả năng tương tác cao nhất là với các điện tử trong vật liệu chiếu vì các điện tử chiếm phần lớn thể tích nguyên tử.
Trong quá trình này, được gọi là sự mất năng lượng do ion hóa, một lượng nhỏ năng lượng thường là một vài eV được chuyển cho một điện tử bởi hạt tới. Đối với chất bán dẫn hoặc chất cách điện, năng lượng này được hấp thụ bởi một điện tử trong vùng hóa trị, nâng nó lên vùng dẫn và tạo ra một lỗ trống tương ứng trong vùng hóa trị. Do đó sự ion hóa tạo ra một cặp điện tử-lỗ trống trong vật liệu. Điều này được thể hiện bằng hình ảnh trong biểu đồ Ek của Hình 1.1: Cấu tạo cặp điện tử – lỗ trống do ion hóa trong chất bán đẫn hoặc cách điện.
Khi sự ion hóa được tạo ra bởi các photon, năng lượng tối thiểu cần thiết để tạo ra một cặp điện tử-lỗ trống là năng lượng vùng cấm, ví dụ, vì photon bị hấp thụ trực tiếp bởi điện tử vùng hóa trị. Tuy nhiên, đối với các hạt năng lượng cao thì quá trình này phức tạp hơn.