CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Sự hài lòng đối với công việc Theo tiến sĩ Weiss (1967) đã định nghĩa “sự hài lòng trong công việc của người lao động là thái độ của người lao động về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động”. Theo Spector (1997), sự hài lòng trong công việc là tổng thể cảm nhận chung, hay đơn giản là người lao động yêu thích công việc và cảm thấy hứng thú với công việc.
Có thể coi sự hài lòng là một dạng của thái độ. Theo Ellickson và Logsdon (2001) “sự hài lòng trong công việc là sự người người lao động yêu thích công việc của họ, môi trường làm việc càng đáp ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao”. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự hài lòng trong công việc chủ yếu phản ánh sự một cá nhân yêu thích công việc của mình. Có rất nhiều khái niệm về sự hài lòng của người lao động trong công việc với những cách tiếp cận khác nhau nhưng các học thuyết đều có điểm chung là hướng đến thái độ và cảm nhận tích cực, đảm bảo sự yêu thích đối với công việc, môi trường làm việc, người lao động đạt được các nhu cầu và giá trị phù hợp với bản thân họ.
Nâng cao sự hài lòng Khái niệm: Một số từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận định, nhận xét, đo lường, bình luận, xem xét… Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường. Khái niệm đánh giá sự hài lòng: Như đã định nghĩa “sự hài lòng ở mục trên thì “sự hài lòng” là một hình thái từ biểu tượng cho trạng thái cảm xúc, trạng thái 4 tinh thần hay sự thỏa mãn, không thể đếm được. Do đó để có thể “đo lường” được sự hài lòng nhiều hay ít người ta hay dùng khái niệm “đánh giá sự hài lòng”. Ví dụ như đánh giá sự hài lòng của khách hàng, đánh giá sự hài lòng của người lao động,.
Đánh giá sự hài lòng của người lao động đối với côngviệc Đến thời điểm hiện tại chưa có một định nghĩa rõ ràng cụ thể về “Đánh giá sự hài lòng của người lao động đối với công việc” nhưng từ định nghĩa khái niệm “sự hài lòng đối với công việc” và “đánh giá sự hài lòng” sinh viên rút ra Đánh giá sự hài lòng của người lao động đối với công việc là phương pháp sử dụng khảo sát với những nhóm tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động, để đánh giá xem doanh nghiệp đã đạt được %, tiêu chí nào chưa đảm bảo thì sẽ tìm cách cải thiện. Nâng cao sự hài lòng của người lao động đối với công việc “Nâng cao” có nghĩa là làm tăng thêm. Từ những ý nghĩa của các khái niệm liên quan ở trên, “Nâng cao sự hài lòng của người lao động đối với công việc” có thể hiểu là tổng hợp các biện pháp, chính sách của doanh nghiệp nhằm hướng đến mục đích tăng thêm thái độ và cảm nhận tích cực, yêu thích đối với công việc, môi trường làm việc của người lao động, giúp người lao động đạt được các nhu cầu và giá trị phù hợp với bản thân họ khi làm việc trong tổ chức. VAI TRÒ CỦA SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC 1.
Đối với doanh nghiệp Đến thời điểm hiện tại chưa có một định nghĩa rõ ràng cụ thể về “Đánh giá sự hài lòng của người lao động đối với công việc” nhưng từ định nghĩa khái niệm “sự hài lòng đối với công việc” và “đánh giá sự hài lòng” sinh viên rút ra Đánh giá sự hài lòng của người lao động đối với công việc là phương pháp sử dụng khảo sát với những nhóm tiêu chí ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động, để đánh giá xem doanh nghiệp đã đạt được %, tiêu chí nào chưa đảm bảo thì sẽ tìm cách cải thiện. - Người lao động cảm thấy hài lòng với công việc, họ sẽ chỉn chu, chăm sóc chu đáo hơn với khách hàng, đối tác của doanh nghiệp. - Người lao động cảm thấy hài lòng sẽ PR công ty với người thân, gia đình, 5 bạn bè bên ngoài, làm tăng vị thế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đối với các công ty đối thủ và các doanh nghiệp đối tác. - Hạn chế được các sai sót hỏng hóc trong quá trình và quy trình làm việc bởi khi người lao động hài lòng với công việc, họ cũng cẩn thận, tận tâm, chu đáo hơn đối với công việc họ làm.
Đối với người lao động Khi doanh nghiệp tạo được sự hài lòng trong công việc của người lao động, người lao động sẽ không cần lo lắng đến những vấn đề tác động xung quanh như thu nhập, các mối quan hệ đồng nghiệp, cơ hội thăng tiến phát triển, mà an tâm công tác, cống hiến cho công việc, hoàn thành những mục tiêu chung. Hài lòng trong công việc còn giúp người lao động có sự ổn định, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. MỘT SỐ HỌC THUYẾT LIÊN QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Thuyết nhu cầu Maslow Lực lượng lao động là hữu hạn nhưng nguồn nhân lực lại là vô hạn, là nguồn tài nguyên vô giá nếu mỗi quốc gia, doanh nghiệp, tổ chức hay các nhà quản trị biết cách khai thác và phát triển.
Mỗi doanh nghiệp có thể tạo lập cho mình một đội ngũ CBCNV phù hợp, đáp ứng với tốt mục tiêu hoạt động của công ty sau đó phải biết cách vận dụng và phát huy tối đa tiềm năng của người lao động. Tuy nhiên cách vận dụng, phát triển nguồn nhân lực và phát huy tối đa tiềm năng của họ thì lại là một chiến lược không đơn giản và dễ dàng. Doanh nghiệp muốn nhận về giá trị thì phải trao giá trị cho người lao động. Có rất nhiều học thuyết bổ trợ cho quản trị nhân sự, một trong số đó là học thuyết Maslow thể hiện 5 tầng nhu cầu của con người.1: Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Internet) 5 tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow: Tầng 1: Nhu cầu thiết yếu (basic needs) Tầng 2: Nhu cầu về an toàn (safety needs) Tầng 3: Nhu cầu về xã hội (social needs) Tầng 4: Nhu cầu về được tôn trọng (esteem needs) Tầng 5: Nhu cầu thể hiện bản thân (self-actualizing needs) Tháp cầu của Maslow với những nhu cầu cơ bản nhất, lớn nhất ở phía dưới và nhu cầu thể hiện bản thân ở phía trên.
Theo ý hiểu, những nhu cầu cơ bản nhất của bản thân cần được đáp ứng trước khi họ có thể đạt được nhu cầu ở những cấp cao hơn. Bốn tầng dưới của tháp Maslow chứa những điều kiện được gọi là “nhu cầuthiết yếu”: sự tôn trọng, xã hội, sự an toàn. Nếu những “nhu cầu thiết yếu” này không được đáp ứng - ngoại trừ nhu cầu cơ bản nhất (sinh lý) - chúng có thể không có dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài, nhưng bản thân sẽ luôn cảm thấy căng thẳng và khó chịu. Tháp nhu cầu của Maslow cho chúng ta thấy sự nhu cầu thiết yếu nhất của bản 7 thân cần phải được đáp ứng trước khi mong muốn hơn về nhu cầu ở tầng cao hơn.
Maslow đã đặt ra thuật ngữ “siêu năng lực” để mô tả những người vượt quá phạm vi của các nhu cầu cơ bản và phấn đấu để cải thiện liên tục. + Vận dụng học thuyết vào nâng cao sự hài lòng trong công việc của người lao động Tháp nhu cầu Maslow với 5 tầng có thể chia ra thành nhóm nhu cầu bậc thấp gồm nhu cầu thiết yếu và được an toàn, và nhu cầu bậc cao bao gồm 3 tầng trên là được hòa hợp, được tôn trọng và thể hiện bản thân. Vận dụng học thuyết Maslow vào quản trị nhân sự và tạo sự hài lòng trong công việc của người lao động được hiểu là dựa vào những nhu cầu của con người để đưa ra phương thức quản trị nhân sự đúng đắn, xây dựng chế độ đãi ngộ với những chính sách phù hợp đảm bảo lợi ích nhu cầu của người lao động, để họ thỏa mãn, hài lòng và an tâm lao động cống hiến cho mục tiêu chung của công ty. Tầng 1: Nhu cầu thể chất thiết yếu như ăn, ở, mặc, sinh lý Doanh nghiệp cần xây dựng chế độ lương thưởng tốt, đảm bảo chi tiêu nuôi sống được người lao động và gia đình của họ.
Hiện nay chế độ đãi ngộ vật chất cũng có nhiều khoản rất đa dạng như tiền lương, thưởng, phụ cấp, thưởng nóng khi đạt kết quả, thưởng ngày lễ tết, phụ cấp ăn trưa, phụ cấp công tác, phụ cấp phòng ở, phụ cấp xăng xe, phụ cấp vé máy bay… Tầng 2: Nhu cầu được an toàn An toàn không chỉ có nghĩa là ở nơi trú ngụ an toàn, được làm việc trong môi trường khang trang hiện đại, kiên cố vững chắc mà còn là an toàn về sức khỏe, tính mạng. Doanh nghiệp cần có cơ sở vật chất nơi làm việc đảm bảo an toàn, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn phòng cháy chữa cháy, nhất là những ngành nghề độc hại cần có thêm phụ cấp độc hại để bù đắp cho sức khỏe của người lao động. Ngoài ra công ty cũng cần chăm lo quan tâm nâng cao và cải thiện sức khỏe của đội ngũ CBCNV bằng cách định mức lao động và phân công thời giờ làm việc hợp lý để người lao động có thời gian nghỉ ngơi tái tạo sức lao động; đăng ký BHYT cho người lao động ở cơ sở y tế uy tín, đảm bảo trang thiết bị máy móc y tế, đóng BHXH cho người lao động đầy đủ đúng luật nhà nước quy định, có các chương trình khám sức khỏe định kỳ, xây dựng các câu lạc bộ văn nghệ thể dục thể thao với nhiều môn để phù hợp với sức khỏe, năng khiếu và sở 8 thích của nhiều đối tượng người lao động trong doanh nghiệp. Khi người lao động khỏe mạnh, doanh nghiệp cũng giảm thiểu được các khoản phụ cấp bồi dưỡng CBCNV ốm đau hay điều trị bệnh, tiết kiệm ngân sách cho công ty.
Sau khi 2 nhóm nhu cầu bậc thấp đã được đảm bảo thì đến nhóm 3 nhu cầu bậc cao. Tầng 3: Được hòa hợp Nhu cầu được hòa hợp là sự hòa hợp, giao lưu với mọi người.