Tổng quan luận án
Chăn nuôi bò giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp tại Việt Nam, đóng vai trò là nguồn cung cấp thịt đỏ lớn thứ hai sau thịt lợn. Theo số liệu năm 2020, ngành chăn nuôi bò cả nước đã cung cấp 441.511 tấn thịt hơi (chiếm 6,1% tổng sản lượng thịt các loại), tuy nhiên sản lượng sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu tiêu thụ (Cục Chăn nuôi, 2019). Việc nhập khẩu bò sống và thịt bò đông lạnh gia tăng làm gia tăng mức độ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt, công tác giống thông qua phương pháp lai tạo được xác định là hướng đi nhanh và hiệu quả hơn so với chọn lọc nội giống do tận dụng được ảnh hưởng bổ sung và ưu thế lai (Bourdon, 1997).
Tại tỉnh Quảng Ngãi, tính đến năm 2019, tổng đàn bò đạt 177.333 con, trong đó đàn bò lai đạt 177.680 con, chiếm tỷ lệ 72% (Chi Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2020). Trong đó, bò lai Brahman (LBr - đàn cái mang 75% máu Brahman và 25% máu bò Vàng địa phương) được nuôi phổ biến nhờ khả năng thích nghi và tầm vóc cải thiện (Nguyễn Hữu Văn, 2012). Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về việc sử dụng bò cái nền Lai Brahman phối với tinh bò đực chuyên thịt ngoại nhập (Charolais, Droughtmaster, Red Angus) để đánh giá năng suất sinh sản của bò mẹ cũng như sức sản xuất thịt của đời con trong điều kiện nông hộ tại Quảng Ngãi và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.
Luận án tiến sĩ nông nghiệp (chuyên ngành Chăn nuôi, mã số 9620105) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mỹ Linh, do PGS.TS. Lê Đình Phùng và TS. Đinh Văn Dũng hướng dẫn tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế (2022), thực hiện đề tài: “Khả năng sinh sản của bò cái Lai Brahman được phối giống Droughtmaster, Charolais, Red Angus và sức sản xuất thịt của đời con nuôi tại tỉnh Quảng Ngãi”.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:
- Đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò thịt tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Đánh giá năng suất sinh sản của đàn bò cái Lai Brahman khi được phối giống với bò đực Charolais, Droughtmaster và Red Angus tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa bò cái Lai Brahman với bò đực Charolais, Droughtmaster và Red Angus nuôi trong điều kiện nông hộ và giai đoạn vỗ béo tại tỉnh Quảng Ngãi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nông hộ chăn nuôi bò thịt; đàn bò cái nền Lai Brahman (75% máu Brahman và 25% máu địa phương); các tổ hợp bò lai (THBL) hướng thịt thế hệ F1 gồm Charolais × Lai Brahman (Ch × LBr), Droughtmaster × Lai Brahman (Dr × LBr), Red Angus × Lai Brahman (Re × LBr) và tổ hợp đối chứng Brahman × Lai Brahman (Br × LBr).
- Phạm vi không gian: Khảo sát hiện trạng, năng suất sinh sản và sinh trưởng giai đoạn 0–18 tháng tuổi tại 3 xã Tịnh Giang, Tịnh Hiệp, Tịnh Đông (huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi); thí nghiệm vỗ béo giai đoạn 18–21 tháng tuổi thực hiện tại trang trại chăn nuôi bò xã Nghĩa Thắng (huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi); phân tích hóa học và chất lượng thịt tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ dữ liệu thu thập và thí nghiệm thực địa được triển khai từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tại Việt Nam, tiến trình cải tạo giống bò thịt trải qua nhiều giai đoạn: từ chương trình "Sind hóa" những năm 1960–1970 đến chương trình "Zebu hóa" sử dụng các giống Zebu như Red Sindhi, Brahman để phối với bò Vàng địa phương nhằm nâng cao tầm vóc (Đinh Văn Cải, 2007). Bước tiếp theo là sử dụng đàn cái lai Zebu làm nền để phối với các giống đực chuyên thịt cao sản nhập nội như Charolais, Red Angus, Droughtmaster, Hereford (Đinh Văn Cải, 2017).
Các công trình nghiên cứu trước đây đã chứng minh hiệu quả của việc lai tạo giống bò thịt tại các vùng sinh thái:
- Về năng suất sinh sản của bò cái lai: Hoàng Văn Vinh và cs (2001) ghi nhận khoảng cách lứa đẻ của bò cái lai 75% máu Brahman tại Bình Định là 14,0 tháng; Nguyễn Ngọc Hải và cs (2017) báo cáo khoảng cách lứa đẻ của bò Brahman thuần tại Bình Dương là 13,9 tháng.
- Về sinh trưởng và tăng khối lượng của con lai hướng thịt: Đinh Văn Cải (2006) công bố tăng khối lượng bình quân từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi của tổ hợp Charolais × Lai Sind (Ch × LS) và Droughtmaster × Lai Sind (Dr × LS) nuôi tại Bình Dương lần lượt là 543 gam/con/ngày và 494 gam/con/ngày; Phạm Văn Quyến và cs (2001) ghi nhận tăng khối lượng của bò lai Ch × LS tại Bình Dương đạt 523 gam/con/ngày và khối lượng 18 tháng tuổi đạt 308,8 kg; Trương La và cs (2017) ghi nhận khối lượng 18 tháng tuổi của bò Red Angus × Lai Sind (Re × LS) tại Tây Nguyên đạt 327,3 kg; Phí Như Liễu và cs (2017) khảo sát bò Brahman × Lai Brahman tại An Giang; Phạm Thế Huệ (2010) đánh giá bò Brahman × Lai Sind tại Đắk Lắk.
- Về năng suất thân thịt và chất lượng thịt: Nguyễn Quốc Đạt và cs (2008), Đinh Văn Tuyền và cs (2010), Văn Tiến Dũng (2012), Phạm Văn Quyến và cs (2017, 2018, 2019) nghiên cứu các tổ hợp lai giữa bò cái Lai Sind với tinh bò chuyên thịt ngoại nhập.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Hầu hết các công trình trước đây chỉ tập trung đánh giá con lai trên nền bò cái Lai Sind (bò Vàng lai Red Sindhi), trong khi đàn bò cái nền Lai Brahman (mang 75% máu Brahman) đang phát triển mạnh tại Quảng Ngãi và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ lại chưa được đánh giá một cách có hệ thống về khả năng kết hợp với ba giống bò chuyên thịt ngoại (Charolais từ Pháp, Droughtmaster từ Úc, Red Angus từ Scotland). Luận án khảo sát đồng bộ từ khâu sinh sản của bò mẹ, sinh trưởng của bê con nuôi nông hộ đến hiệu quả vỗ béo, năng suất thân thịt và các chỉ số lý hóa của thịt sau giết mổ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết di truyền và ưu thế lai (Heterosis): Sự phối hợp giữa bò mẹ Lai Brahman thích nghi nhiệt đới với bò đực ngoại chuyên thịt khai thác hiệu ứng ưu thế lai và tính bổ trợ giữa các giống (Bourdon, 1997). Các tính trạng sinh sản có hệ số di truyền thấp nên ưu thế lai thể hiện rõ; các tính trạng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt có hệ số di truyền từ trung bình đến cao chịu ảnh hưởng mạnh bởi di truyền giống bố.
- Tiêu chuẩn nhu cầu dinh dưỡng: Sử dụng định mức dinh dưỡng của Kearl (1982) cho gia súc nhai lại ở các nước đang phát triển vùng nhiệt đới để đánh giá mức độ đáp ứng về vật chất khô (DM), protein thô (CP) và năng lượng trao đổi (ME).
- Phân loại chất lượng thịt: Hệ thống phân loại thịt RFN (bình thường: đỏ, chắc, không rỉ nước), PSE (nhạt màu, mềm, rỉ nước) và DFD (sẫm màu, săn chắc, khô) theo Lyasota và cs (2019); tiêu chuẩn phân loại thịt bình thường của Honikel (1998); tiêu chuẩn độ dai Warner-Bratzler theo USDA (1997).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp khảo sát thực địa và thí nghiệm chăn nuôi:
[Nội dung 1: Khảo sát hiện trạng & Bò Br x LBr]
- 180 nông hộ (bảng hỏi)
- 351 bò cái LBr phối giống Br (sinh sản)
- 513 bò Br x LBr từ 0-18 tháng (sinh trưởng)
[Nội dung 2: Sinh sản bò mẹ LBr phối Ch, Dr, Re]
- Khẩu phần thức ăn: 90 hộ (30 hộ/tổ hợp)
- Năng suất sinh sản: 373 bò mẹ (137 phối Ch, 120 phối Dr, 116 phối Re)
[Nội dung 3: Sinh trưởng con lai 0-18 tháng]
- Khẩu phần thức ăn: 90 hộ (30 hộ/tổ hợp)
- Sinh trưởng: 246 con (91 Ch x LBr, 81 Dr x LBr, 74 Re x LBr)
[Nội dung 4: Vỗ béo 18-21 tháng, Thân thịt & Chất lượng thịt]
- Thiết kế CRD: 18 bò đực 18 tháng tuổi (6 con/tổ hợp), nuôi 90 ngày
- Mổ khảo sát: 12 con (4 con/tổ hợp)
- Phân tích cơ thăn (xương sườn 7-12)
Nội dung chính theo từng chương
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
(Ghi chú: Luận án bố cục phần nội dung chuyên môn nằm tập trung trong Chương 3 theo cấu trúc tóm tắt luận án tiến sĩ).
1. Hiện trạng chăn nuôi bò thịt tại tỉnh Quảng Ngãi
- Đặc điểm nông hộ: Quy mô gia đình trung bình 4,4 nhân khẩu/hộ (2,8 lao động chính, chiếm 62%). Diện tích đất bình quân 24,5 sào/hộ (đất nông nghiệp 9,4 sào/hộ; đất trồng cỏ 3,2 sào/hộ, trong đó cỏ Voi chiếm ưu thế với 2,3 sào/hộ).
- Quy mô và cơ cấu đàn: Tổng đàn bình quân 3,9 con/hộ. Chăn nuôi quy mô nhỏ từ 3–5 con/hộ chiếm tỷ lệ cao nhất (66,1%); quy mô 1–2 con chiếm 16,7%; quy mô 6–8 con chiếm 16,6%; quy mô trên 8 con chỉ chiếm 0,6%. Cơ cấu đàn gồm bò cái đã đẻ chiếm 45,9%; đàn bò lai 75% máu Brahman chiếm tỷ lệ áp đảo 98,3%.
- Chăm sóc và nuôi dưỡng: 73,9% số hộ áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn; 97,8% có chuồng trại kiên cố; 91,6% sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo. Tỷ lệ hộ tiêm vắc-xin cho bò sinh sản đạt 97,2% và bò thịt đạt 84,9%; tỷ lệ tắm chải đạt trên 92%; trên 90% số hộ có ghi chép phối giống, dự đoán ngày sinh và đỡ đẻ.
- Thức ăn sử dụng: Thức ăn thô chủ lực là cỏ trồng (97,2% hộ sử dụng) và rơm lúa (69,4–97,2% hộ sử dụng). Thức ăn tinh chủ yếu là cám gạo (87,8–90,5% hộ), bột ngô (63,9–70,8% hộ) và bột sắn (40,6–49,4% hộ).
- Năng suất sinh sản của bò cái Lai Brahman khi phối giống Brahman: Khảo sát trên 351 bò cái ghi nhận tuổi động dục lần đầu 20,3 tháng; tuổi phối giống lần đầu 20,6 tháng; tuổi đẻ lứa đầu 30,0 tháng; số liều tinh phối để có chửa đạt 1,14 liều; thời gian mang thai 285,1 ngày; thời gian phối giống thành công sau đẻ 106,7 ngày; khoảng cách lứa đẻ đạt 391,8 ngày (13,1 tháng).
- Khả năng sinh trưởng của tổ hợp Brahman × Lai Brahman (đối chứng): Khối lượng sơ sinh ở con đực là 25,4 kg, con cái là 24,3 kg. Đến 12 tháng tuổi, khối lượng đực đạt 210,2 kg, cái đạt 186,3 kg ($p = 0,040$). Đến 18 tháng tuổi, con đực đạt 289,5 kg, con cái đạt 255,6 kg ($p = 0,013$). Vòng ngực lúc 18 tháng ở con đực đạt 157,2 cm, con cái đạt 151,3 cm ($p = 0,018$).
2. Năng suất sinh sản của bò cái Lai Brahman phối giống bò Charolais, Droughtmaster và Red Angus nuôi trong nông hộ
- Thu nhận thức ăn của bò mẹ: Lượng vật chất khô ăn vào trong giai đoạn mang thai dao động 6,9–7,5 kg DM/ngày; protein thô đạt 0,6–0,7 kg/ngày; năng lượng trao đổi đạt 14,6–15,5 Mcal/ngày. Trong 3 tháng đầu nuôi con sau đẻ, lượng ăn vào đạt 7,5–7,6 kg DM/ngày, 0,7 kg CP/ngày và 15,5–15,9 Mcal ME/ngày. Không có sự sai khác thống kê về mức tiêu thụ dinh dưỡng giữa các nhóm bò mẹ phối với các giống đực khác nhau ($p > 0,05$), và đều đáp ứng tốt tiêu chuẩn Kearl (1982).
- Chỉ tiêu sinh sản của bò mẹ: Không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$) giữa 3 nhóm đực phối về thời gian mang thai, số liều tinh/bò có chửa, thời gian động dục lại sau đẻ, thời gian phối có chửa lại sau đẻ và khoảng cách lứa đẻ. Tỷ lệ đẻ khó ở mức thấp (1,7–3,7%), tỷ lệ bê sơ sinh còn sống đạt 98,5–100%. Bò mẹ phối giống Charolais sinh con có khối lượng sơ sinh đạt 28,6 kg, cao hơn có ý nghĩa so với nhóm phối Droughtmaster (27,2 kg) và Red Angus (27,5 kg) ($p = 0,002$).
| Chỉ tiêu sinh sản |
Charolais (n=137) |
Droughtmaster (n=120) |
Red Angus (n=116) |
Giá trị p |
| Thời gian mang thai (ngày) |
285,2 ± 5,1 |
285,4 ± 5,9 |
284,7 ± 6,4 |
0,654 |
| Số liều tinh/bò có chửa (liều) |
1,2 ± 0,5 |
1,2 ± 0,5 |
1,2 ± 0,5 |
0,909 |
| Tỷ lệ bê sơ sinh còn sống (%) |
99,2 |
98,5 |
100,0 |
0,346 |
| Tỷ lệ bò mẹ đẻ khó (%) |
3,7 |
1,7 |
2,6 |
0,637 |
| Khối lượng sơ sinh (kg/con) |
28,6 ± 3,2 |
27,2 ± 3,4 |
27,5 ± 3,0 |
0,002 |
| Động dục lại sau đẻ (ngày) |
110,4 ± 42,9 |
106,8 ± 44,4 |
107,7 ± 41,6 |
0,784 |
| Phối có chửa lại sau đẻ (ngày) |
111,2 ± 42,4 |
109,0 ± 43,7 |
110,3 ± 40,6 |
0,919 |
| Khoảng cách lứa đẻ (ngày) |
396,4 ± 42,4 |
393,7 ± 43,5 |
395,7 ± 40,6 |
0,874 |
3. Khả năng sinh trưởng của các tổ hợp bò lai Charolais × Lai Brahman, Droughtmaster × Lai Brahman và Red Angus × Lai Brahman từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi
- Thu nhận thức ăn: Lượng vật chất khô ăn vào tăng đều theo các giai đoạn phát triển: 6–9 tháng tuổi đạt 2,8–2,9 kg DM/ngày; 10–12 tháng đạt 5,3–5,8 kg DM/ngày; 13–15 tháng đạt 6,5–6,6 kg DM/ngày; 16–18 tháng đạt 8,0–8,1 kg DM/ngày. Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần nông hộ chiếm từ 10,1% đến 15,7%.
- Khối lượng tích lũy: Giống và giới tính ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng tích lũy ở mọi mốc tuổi ($p < 0,05$), tương tác giống × giới tính không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$). Ở 18 tháng tuổi, tổ hợp Ch × LBr đạt khối lượng cao nhất (đực 382,8 kg; cái 336,1 kg), kế tiếp là Re × LBr (đực 350,7 kg; cái 323,5 kg) và Dr × LBr (đực 331,7 kg; cái 302,4 kg) ($p < 0,001$). Khối lượng của cả 3 tổ hợp đều vượt trội so với tổ hợp Br × LBr từ 14,6% đến 32,2% ở con đực và 18,3% đến 31,4% ở con cái.
- Tăng khối lượng bình quân (ADG): Tính chung giai đoạn từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi, tăng khối lượng ở con đực của Ch × LBr, Re × LBr, Dr × LBr lần lượt là 654,9; 597,7 và 562,8 gam/con/ngày; ở con cái lần lượt là 570,1; 549,4 và 511,0 gam/con/ngày ($p < 0,001$).
- Kích thước chiều đo cơ thể lúc 18 tháng tuổi:
- Vòng ngực: Ch × LBr đực đạt 174,7 cm, cái đạt 168,9 cm; Re × LBr đực đạt 173,7 cm, cái đạt 166,3 cm; Dr × LBr đực đạt 167,6 cm, cái đạt 159,2 cm ($p < 0,001$).
- Dài thân chéo: Ch × LBr đực đạt 136,5 cm, cái đạt 132,7 cm; Re × LBr đực đạt 133,2 cm, cái đạt 131,5 cm; Dr × LBr đực đạt 131,9 cm, cái đạt 127,7 cm ($p < 0,001$).
- Cao vây: Ch × LBr đực đạt 124,1 cm, cái đạt 121,1 cm; Re × LBr đực đạt 122,5 cm, cái đạt 121,1 cm; Dr × LBr đực đạt 121,5 cm, cái đạt 120,2 cm ($p = 0,002$ đối với giống).
| Mốc tuổi (tháng) |
Ch × LBr Đực (n=50) |
Ch × LBr Cái (n=41) |
Dr × LBr Đực (n=46) |
Dr × LBr Cái (n=35) |
Re × LBr Đực (n=44) |
Re × LBr Cái (n=30) |
p (Giống) |
p (Giới tính) |
| Sơ sinh (kg) |
29,1 ± 2,6 |
28,2 ± 2,9 |
27,8 ± 2,9 |
26,5 ± 2,9 |
27,9 ± 2,8 |
26,9 ± 2,9 |
0,001 |
0,004 |
| 6 tháng (kg) |
152,7 ± 18,1 |
143,2 ± 15,4 |
141,7 ± 10,8 |
133,6 ± 16,1 |
146,7 ± 17,8 |
137,6 ± 14,9 |
< 0,001 |
< 0,001 |
| 12 tháng (kg) |
256,1 ± 32,8 |
240,3 ± 23,2 |
230,2 ± 26,2 |
217,4 ± 25,3 |
238,4 ± 29,6 |
231,3 ± 19,7 |
< 0,001 |
< 0,001 |
| 18 tháng (kg) |
382,8 ± 35,9 |
336,1 ± 25,2 |
331,7 ± 34,3 |
302,4 ± 26,7 |
350,7 ± 31,8 |
323,5 ± 25,2 |
< 0,001 |
< 0,001 |
| TKL Ss–18 (g/ngày) |
654,9 ± 67,7 |
570,1 ± 46,5 |
562,8 ± 63,8 |
511,0 ± 49,3 |
597,7 ± 57,9 |
549,4 ± 47,0 |
< 0,001 |
< 0,001 |
4. Tăng khối lượng, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp bò lai nuôi vỗ béo từ 18 đến 21 tháng tuổi
- Hiệu quả vỗ béo (90 ngày): Lượng vật chất khô ăn vào bình quân đạt 10,33 kg DM/con/ngày (Ch × LBr), 9,50 kg DM/con/ngày (Dr × LBr) và 9,86 kg DM/con/ngày (Re × LBr) ($p = 0,019$). Tăng khối lượng tuyệt đối trong giai đoạn vỗ béo của Ch × LBr đạt cao nhất với 1.282 gam/con/ngày, Re × LBr đạt 1.135 gam/con/ngày và Dr × LBr đạt 1.039 gam/con/ngày ($p = 0,001$). Khối lượng kết thúc lúc 21 tháng tuổi lần lượt là 523,7 kg (Ch × LBr), 484,3 kg (Re × LBr) và 465,0 kg (Dr × LBr) ($p = 0,005$). Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) dao động từ 8,12 đến 9,19 kg DM/kg tăng trọng ($p = 0,102$).
- Năng suất và thành phần thân thịt: Mổ khảo sát 4 con/tổ hợp cho thấy khối lượng giết mổ và khối lượng thịt xẻ cao nhất ở Ch × LBr (516,0 kg và 312,6 kg). Tỷ lệ thịt xẻ không có sai khác giữa các tổ hợp (60,3–62,1%, $p = 0,390$). Khối lượng thịt tinh đạt 233,2 kg (Ch × LBr), 202,3 kg (Re × LBr) và 200,6 kg (Dr × LBr) ($p = 0,002$); tỷ lệ thịt tinh so với khối lượng giết mổ đạt 45,2% (Ch × LBr), 43,9% (Dr × LBr) và 42,6% (Re × LBr) ($p = 0,033$). Diện tích mắt thịt đạt 93,0 cm² (Ch × LBr), 92,4 cm² (Re × LBr) và 85,8 cm² (Dr × LBr) ($p = 0,414$). Tỷ lệ mỡ thân thịt ở Re × LBr đạt 8,1%, cao hơn có ý nghĩa ($p = 0,001$) so với Ch × LBr (4,7%) và Dr × LBr (4,6%).
| Chỉ tiêu năng suất thân thịt |
Charolais × LBr (n=4) |
Droughtmaster × LBr (n=4) |
Red Angus × LBr (n=4) |
Giá trị p |
| Khối lượng giết mổ (kg) |
516,0 ± 13,7 |
457,0 ± 21,2 |
475,3 ± 24,4 |
0,007 |
| Khối lượng thịt xẻ (kg) |
312,6 ± 13,3 |
275,6 ± 13,5 |
295,5 ± 23,3 |
0,043 |
| Tỷ lệ thịt xẻ (%) |
60,6 ± 2,0 |
60,3 ± 1,2 |
62,1 ± 2,3 |
0,390 |
| Khối lượng thịt tinh (kg) |
233,2 ± 8,4 |
200,6 ± 6,7 |
202,3 ± 12,8 |
0,002 |
| Tỷ lệ thịt tinh (% KL giết mổ) |
45,2 ± 0,9 |
43,9 ± 1,1 |
42,6 ± 1,5 |
0,033 |
| Tỷ lệ mỡ (% KL giết mổ) |
4,7 ± 1,6 |
4,6 ± 0,5 |
8,1 ± 0,4 |
0,001 |
| Tỷ lệ xương (% KL giết mổ) |
10,7 ± 0,8 |
11,8 ± 0,5 |
11,4 ± 1,2 |
0,237 |
| Diện tích mắt thịt (cm²) |
93,0 ± 6,1 |
85,8 ± 9,9 |
92,4 ± 6,4 |
0,414 |
- Chất lượng thịt:
- Giá trị pH: pH thịt giảm dần theo thời gian sau giết mổ từ pH1 (6,3–6,4) xuống pH48 (5,3–5,5), không có sự khác biệt giữa các tổ hợp ($p > 0,05$), phản ánh quá trình phân giải glycogen bình thường và đạt tiêu chuẩn thịt RFN.
- Màu sắc thịt: Các chỉ số L* (độ sáng, 34,4–39,2), a* (độ đỏ, 13,1–15,6) và b* (độ vàng, 6,0–8,1) tăng nhẹ từ 12 đến 48 giờ bảo quản, không sai khác giữa các giống ($p > 0,05$).
- Mất nước bảo quản và chế biến: Mất nước bảo quản tại 24 giờ ở Dr × LBr là 6,0%, cao hơn Ch × LBr (2,3%) và Re × LBr (3,6%) ($p = 0,021$). Mất nước chế biến ở 48 giờ dao động 28,9–29,6% ($p = 0,582$).
- Độ dai thịt (Lực cắt Warner-Bratzler): Dao động từ 70,2–75,8 N lúc 12 giờ đến 80,9–90,0 N lúc 48 giờ ($p > 0,05$), thuộc nhóm thịt có độ dai trung bình theo USDA (1997).
- Thành phần hóa học cơ thăn: Tỷ lệ vật chất khô (22,7–23,5%), protein thô (21,1–21,5%) và khoáng tổng số (1,0–1,1%) tương đương nhau giữa các tổ hợp ($p > 0,05$). Tỷ lệ mỡ giắt (mỡ thô nội cơ) ở Ch × LBr đạt 1,6% và Re × LBr đạt 1,4%, cao hơn có ý nghĩa so với Dr × LBr đạt 0,6% ($p = 0,007$).
- Hiệu quả kinh tế: Sau 3 tháng nuôi vỗ béo, tiền lãi thu được từ tổ hợp Ch × LBr đạt 3.667.000 đồng/con (1.222.000 đồng/con/tháng); Re × LBr đạt 2.816.000 đồng/con; Dr × LBr đạt 2.420.000 đồng/con. Tổ hợp Ch × LBr cho hiệu quả kinh tế cao hơn Dr × LBr 51,5% và cao hơn Re × LBr 30,2%.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng đầy đủ về các chỉ tiêu sinh sản của đàn bò cái nền Lai Brahman (75% máu Brahman) khi phối tinh với ba giống bò chuyên thịt ngoại nhập (Charolais, Droughtmaster, Red Angus) trong điều kiện chăn nuôi nông hộ tại miền Trung Việt Nam.
- Xác lập các thông số khoa học về động lực sinh trưởng, mức độ tích lũy khối lượng, kích thước chiều đo cơ thể từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi, sức sản xuất thịt giai đoạn vỗ béo (18–21 tháng tuổi), các chỉ tiêu thân thịt và đặc tính lý hóa, chất lượng thịt của ba tổ hợp bò lai F1 hướng thịt (Ch × LBr, Dr × LBr, Re × LBr).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Chứng minh tính khả thi của việc sử dụng bò cái nền Lai Brahman để lai tạo với bò đực chuyên thịt ngoại nhập mà không làm suy giảm năng suất sinh sản của bò mẹ (khoảng cách lứa đẻ 13,2 tháng, tỷ lệ đẻ khó thấp dưới 3,8%).
- Khẳng định ưu thế sản xuất thịt vượt trội của tổ hợp lai Charolais × Lai Brahman về tốc độ tăng khối lượng (1.282 g/ngày ở giai đoạn vỗ béo), khối lượng kết thúc 21 tháng tuổi (523,7 kg), khối lượng thịt tinh (233,2 kg) và hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Tổ hợp Red Angus × Lai Brahman thể hiện ưu thế về tỷ lệ mỡ thân thịt (8,1%) và mỡ giắt nội cơ (1,4%), tạo cơ sở sản xuất thịt bò mềm có vân mỡ.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Khuyến nghị đưa bò cái nền Lai Brahman và các công thức lai với đực giống Charolais, Droughtmaster, Red Angus vào cơ cấu giống chăn nuôi nông hộ tại tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ có điều kiện tương đồng.
- Áp dụng quy trình vỗ béo nhốt chuồng trong 90 ngày ở giai đoạn 18–21 tháng tuổi kết hợp khẩu phần thức ăn tinh 1,2% khối lượng cơ thể và cỏ voi để tối ưu hóa năng suất thịt và hiệu quả kinh tế trước khi xuất bán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các số liệu sinh trưởng và sinh sản trong giai đoạn 0–18 tháng tuổi phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc và nguồn thức ăn tự nhiên tại các nông hộ ở huyện Sơn Tịnh, nơi mức độ đầu tư thức ăn tinh còn hạn chế (10–16%). Quy mô mổ khảo sát đánh giá thân thịt và chất lượng thịt mới thực hiện trên bò đực vỗ béo (n=4/tổ hợp) tại một cơ sở chăn nuôi ở huyện Tư Nghĩa.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu khả năng sinh sản của bò cái thế hệ con lai F1 (nếu giữ lại làm giống) hoặc đánh giá các công thức lai 3 máu tiếp theo; mở rộng đánh giá chất lượng thịt trên cá thể cái và các chế độ dinh dưỡng vỗ béo khác nhau nhằm tối ưu hóa chi phí thức ăn.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và làm chính sách nông nghiệp: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phát triển đàn bò thịt chất lượng cao, định hướng chuyển đổi cơ cấu giống bò tại các tỉnh miền Trung từ bò Lai Sind sang bò cái nền Lai Brahman phối tinh chuyên thịt.
- Đối với người chăn nuôi và trang trại: Cung cấp định mức kỹ thuật rõ ràng về tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và hiệu quả tài chính của từng tổ hợp lai, giúp người nuôi lựa chọn giống phối phù hợp với mục tiêu thị trường (chọn Charolais để tối đa hóa sản lượng thịt tinh hoặc chọn Red Angus để tăng mỡ giắt và độ mềm).
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Cung cấp tài liệu tham khảo với hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh từ điều tra hệ thống nông hộ, thiết kế thí nghiệm vỗ béo đến quy trình giải phẫu thân thịt và phân tích chất lượng thịt theo tiêu chuẩn quốc tế (AOAC, AMSA, Boccard, Honikel).
Câu hỏi thường gặp
1. Bò cái Lai Brahman khi phối giống bò đực ngoại chuyên thịt có bị tăng tỷ lệ đẻ khó hay kéo dài khoảng cách lứa đẻ không?
Không. Kết quả nghiên cứu trên 373 bò cái Lai Brahman cho thấy tỷ lệ đẻ khó dao động ở mức rất thấp từ 1,7% (phối Droughtmaster) đến 3,7% (phối Charolais), tỷ lệ bê sơ sinh còn sống đạt từ 98,5% đến 100%. Khoảng cách lứa đẻ của bò mẹ dao động từ 393,7 đến 396,4 ngày (tương đương 13,2 tháng), không sai khác có ý nghĩa thống kê so với khi phối tinh bò Brahman (391,8 ngày, tương đương 13,1 tháng) ($p = 0,874$).
2. Trong ba tổ hợp lai (Charolais × Lai Brahman, Droughtmaster × Lai Brahman, Red Angus × Lai Brahman), tổ hợp nào sinh trưởng nhanh nhất và cho khối lượng lớn nhất?
Tổ hợp Charolais × Lai Brahman đạt năng suất sinh trưởng cao nhất ở mọi giai đoạn. Lúc 18 tháng tuổi, bò đực Ch × LBr đạt 382,8 kg (tăng khối lượng bình quân sơ sinh – 18 tháng đạt 654,9 gam/ngày). Sau 90 ngày vỗ béo lúc 21 tháng tuổi, bò đực Ch × LBr đạt khối lượng 523,7 kg với tốc độ tăng khối lượng đạt 1.282 gam/ngày, cao hơn có ý nghĩa ($p < 0,05$) so với Red Angus × Lai Brahman (484,3 kg; 1.135 gam/ngày) và Droughtmaster × Lai Brahman (465,0 kg; 1.039 gam/ngày).
3. Tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ thịt tinh của các tổ hợp bò lai sau giai đoạn nuôi vỗ béo đạt bao nhiêu?
Tỷ lệ thịt xẻ của cả ba tổ hợp lai đạt mức cao từ 60,3% đến 62,1% ($p = 0,390$). Khối lượng thịt tinh đạt cao nhất ở tổ hợp Charolais × Lai Brahman (233,2 kg, tương ứng 45,2% khối lượng giết mổ), tiếp theo là Red Angus × Lai Brahman (202,3 kg, tương ứng 42,6%) và Droughtmaster × Lai Brahman (200,6 kg, tương ứng 43,9%) ($p = 0,033$).
4. Đặc điểm chất lượng thịt của ba tổ hợp bò lai có đạt tiêu chuẩn thịt thương phẩm không?
Chất lượng thịt của cả ba tổ hợp lai đều đạt tiêu chuẩn thịt bình thường (RFN). Giá trị pH thịt giảm theo quy luật sinh hóa chuẩn từ 6,3–6,4 sau giết mổ 1 giờ xuống 5,3–5,5 sau 48 giờ. Độ dai của thịt đo bằng lực cắt Warner-Bratzler ở thời điểm 48 giờ đạt từ 80,9 N đến 90,0 N, thuộc nhóm thịt có độ dai trung bình theo thang USDA (1997). Đáng chú ý, tỷ lệ mỡ giắt trong cơ thăn của tổ hợp Charolais × Lai Brahman (1,6%) và Red Angus × Lai Brahman (1,4%) cao hơn rõ rệt so với Droughtmaster × Lai Brahman (0,6%) ($p = 0,007$).
5. Hiệu quả kinh tế sau 3 tháng vỗ béo của các tổ hợp bò lai có sự chênh lệch như thế nào?
Sau 3 tháng vỗ béo từ 18 đến 21 tháng tuổi, tổ hợp Charolais × Lai Brahman mang lại lợi nhuận cao nhất đạt 3.667.000 đồng/con (1.222.000 đồng/con/tháng), cao hơn 51,5% so với tổ hợp Droughtmaster × Lai Brahman (2.420.000 đồng/con) và cao hơn 30,2% so với tổ hợp Red Angus × Lai Brahman (2.816.000 đồng/con).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Mỹ Linh đã đánh giá toàn diện hiện trạng chăn nuôi và khẳng định tiềm năng to lớn của đàn bò cái nền Lai Brahman tại tỉnh Quảng Ngãi khi phối giống với các dòng đực chuyên thịt ngoại nhập. Đàn bò cái mẹ duy trì năng suất sinh sản ổn định với khoảng cách lứa đẻ 13,2 tháng và tỷ lệ đẻ khó thấp. Đời con lai F1 thể hiện ưu thế lai vượt trội về khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt, trong đó tổ hợp Charolais × Lai Brahman đạt năng suất thịt xẻ, thịt tinh và hiệu quả kinh tế cao nhất, trong khi tổ hợp Red Angus × Lai Brahman tạo ưu thế về tỷ lệ mỡ giắt nội cơ. Các kết quả này là luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc định hướng lai tạo, phát triển chăn nuôi bò thịt thâm canh chất lượng cao tại Quảng Ngãi và khu vực miền Trung.