MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Chăn nuôi bò luôn đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là nguồn cung cấp thịt đỏ lớn chỉ sau thịt heo cho nhu cầu thực phẩm của con người. Năm 2020, ngành chăn nuôi bò đã cung cấp cho thị trường 441. Tuy nhiên, hiện nay sản lượng thịt bò sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu của người tiêu dùng (Cục Chăn nuôi, 2019).
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt bò trong nước, trong những năm gần đây nước ta đã nhập khẩu một lượng lớn bò sống cũng như thịt bò từ các nước, tuy nhiên giải pháp nhập khẩu chỉ là tạm thời và làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế nước ta vào nước ngoài. Do vậy, cần có các giải pháp để nâng cao khả năng sản xuất thịt bò trong nước. Công tác giống có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao tầm vóc đàn bò nội và là con đường ngắn nhất để nâng cao năng suất và chất lượng thịt bò sản xuất trong nước. Tiến bộ di truyền do chọn lọc đàn bò nội để nâng cao khả năng sản xuất thịt là nhỏ và chậm trong khi đó lai tạo có thể tạo nên cải biến sức sản xuất thịt bò trong nước nhanh hơn nhiều.
Vì lai tạo vừa tận dụng được ảnh hưởng bổ sung vừa tạo được ưu thế lai từ đó nâng cao khả năng sản xuất của vật nuôi (Bourdon, 1997). Công tác lai tạo giống bò thịt để nâng cao năng suất, chất lượng thịt đồng thời thích nghi với hệ thống sản xuất của nước ta đã được tiến hành khá lâu. Từ những năm 1960 – 1970, chương trình Red Sindhi hóa đàn bò Vàng và sau này là Zebu hóa đã được thực hiện (Đinh Văn Cải, 2007). Sử dụng đực hoặc tinh bò Zebu (ví dụ bò Red Sindhi, Brahman) phối cho bò cái Vàng đã được chọn lọc để tạo ra con lai Zebu có tầm vóc được cải thiện.
Bước tiếp theo là đàn cái lai Zebu này được sử dụng làm cái nền để phối tinh bò chuyên thịt như Charolais, Red Angus, Droughtmaster, Hereford… tạo ra con lai hướng thịt để nâng cao khả năng sản xuất thịt bò trong nước (Đinh Văn Cải, 2017). Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu lai tạo các giống bò thịt và đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt ở đời con đã được thực hiện. Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy khi thực hiện lai tạo, khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của thế hệ con lai cao hơn so với bò địa phương. Năm 2019 trên toàn tỉnh Quảng Ngãi có 177.680 con bò lai chiếm 72% (Chi Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, 2020).
Trong nhóm bò lai giữa Zebu và bò Vàng Việt Nam, con lai Brahman có nhiều ưu điểm về khả năng thích nghi và sức sản xuất thịt nên đã được người chăn nuôi ưa chuộng, nhất là các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ trong đó có tỉnh Quảng Ngãi (Nguyễn Hữu Văn, 2012). Điều này chứng tỏ người dân đã có mối quan tâm rất lớn đến việc phát triển đàn bò lai thay thế cho giống bò địa phương. Chăn nuôi bò đã được xác định thành ngành chăn nuôi hàng hóa. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ thịt bò về số lượng và chất lượng tăng cao nên chăn nuôi bò lai giữa bò Vàng và bò Zebu lấy thịt không còn là lựa chọn chiến lược.
Do vậy, việc sử dụng đàn bò cái Lai Brahman làm bò cái nền để phối giống với các giống bò chuyên thịt như Charolais, Droughtmaster, Red Angus…nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt của đàn bò thịt tại địa phương, đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người chăn nuôi bò thịt là hướng đi cần thiết. Bò Charolais có nguồn gốc từ vùng Charolles của nước Pháp. Giống bò này nổi tiếng thế giới bởi lớn nhanh, hiệu quả sản xuất thịt cao. Con đực nặng 1.300 1 kg, con cái 700 – 800 kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt trên 65%.
Bò Droughtmaster được tạo ra ở vùng Bắc Queensland (Ốt-xtrây-lia). Con đực trưởng thành đạt tới khối lượng 900 – 1.000 kg, con cái 650 – 700 kg, tỷ lệ thịt xẻ trên 55%. Bò Red Angus có nguồn gốc từ phía Bắc Scotland. Ưu điểm nổi bật là có vân mỡ xen kẽ trong thớ thịt giúp thịt mềm và béo.
Bò cái trưởng thành nặng 550 – 650 kg, bò đực 800 – 950 kg, tỷ lệ thịt xẻ bình quân 66% (Đinh Văn Cải, 2007). Các giống bò này đã được nhập vào Việt Nam để cải thiện khả năng sản xuất thịt của đàn bò trong nước. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào thực hiện tại Quảng Ngãi nói riêng và miền Trung nói chung để đánh giá năng suất sinh sản của đàn bò cái nền Lai Brahman khi phối tinh các bò đực chuyên thịt như Charolais, Droughtmaster hay Red Angus, cũng như chưa có nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của đời con nuôi trong nông hộ. Từ cơ sở khoa học và thực tiễn đó, để góp phần nâng cao sức sản xuất thịt của đàn bò thịt tại tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khả năng sinh sản của bò cái Lai Brahman được phối giống Droughtmaster, Charolais, Red Angus và sức sản xuất thịt của đời con nuôi tại tỉnh Quảng Ngãi” 2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá được hiện trạng chăn nuôi bò thịt tại tỉnh Quảng Ngãi - Đánh giá được năng suất sinh sản của đàn bò cái Lai Brahman khi được phối giống Charolais, Droughtmaster và Red Angus tại tỉnh Quảng Ngãi - Đánh giá được khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa bò cái Lai Brahman với đực Charolais, Droughtmaster và Red Angus tại tỉnh Quảng Ngãi 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tư liệu khoa học về khả năng sinh sản của bò cái Lai Brahman; khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa bò cái Lai Brahman với bò đực Charolais, Droughtmaster và Red Angus 3. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để khuyến cáo và lựa chọn các tổ hợp bò lai giữa bò cái Lai Brahman với các giống bò đực Charolais, Droughtmaster, Red Angus nuôi tại tỉnh Quảng Ngãi, và góp phần phát triển vùng sản xuất bò thịt chất lượng cao tại tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời là tài liệu tham khảo có giá trị góp phần phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực chăn nuôi.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở VIỆT NAM Chăn nuôi bò ở nước ta được coi là ngành chăn nuôi quan trọng chỉ đứng sau chăn nuôi lợn và gia cầm. Tổng số bò cả nước được xác định tại thời điểm 01/10 hằng năm từ năm 2015 - 2020 dao động trong khoảng 5,4 - 6,1 triệu con, trong đó bò lai chiếm khoảng trên 50%. Tương tự, sản lượng thịt bò hơi sản xuất được dao động trong khoảng 2,9 - 3,5 nghìn tấn.
Chăn nuôi bò thịt ở nước ta có 03 phương thức chủ yếu đó là chăn nuôi thâm canh, bán thâm canh và quảng canh. Hiện nay, phương thức chăn nuôi bò thịt đang có xu hướng dịch chuyển dần từ chăn nuôi quảng canh sang bán thâm canh và thâm canh. Khuynh hướng chăn nuôi bò gia trại, trang trại ngày càng phát triển. LAI TẠO VÀ ƯU THẾ LAI 2 Lai tạo đã được áp dụng vào hầu hết các hệ thống chăn nuôi nói chung, và chăn nuôi bò nói riêng trên toàn thế giới trong nhiều thập kỷ để tận dụng lợi thế của ưu thế lai và ảnh hưởng bổ sung.
Đối với vật nuôi, ưu thế lai là hiện tượng trong đó con lai thu được bằng cách lai hai bố mẹ khác nhau về mặt di truyền tỏ ra ưu việt hơn bố mẹ chúng về sinh trưởng, sức chống chịu và năng suất. Khi cho giao phối giữa 2 cá thể khác giống/dòng, các tổ hợp lai tạo ra đều biểu hiện ưu thế lai, tuy nhiên ở mức độ cao thấp khác nhau phụ thuộc vào công thức lai (giống) và khả năng di truyền của tính trạng. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai tạo là giải pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn. NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA BÒ CÁI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Khả năng sinh sản của bò cái được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu trên bản thân con cái và đời con của nó.
Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của bò cái như: tuổi động dục lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục lại sau đẻ, thời gian phối giống thành công sau đẻ, khối lượng bê sơ sinh và quan trọng nhất là khoảng cách lứa đẻ. Năng suất sinh sản của bò cái chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như di truyền, lứa đẻ, dinh dưỡng, mùa vụ và phương pháp chăm sóc, quản lý. Về mặt di truyền, các giống/dòng khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau. Mặt khác, các tính trạng sinh sản thường có hệ số di truyền thấp nên lai tạo sẽ mang lại ưu thế lai cao cho các tính trạng này.
Vì vậy, để nâng cao khả năng sinh sản của bò cái, cần cải tiến về di truyền cho các tính trạng sinh sản bằng cách chọn lọc các giống/dòng có khả năng sinh sản tốt và cho lai tạo giữa các giống/dòng đó nhằm tăng thêm giá trị cho các tính trạng này thông qua ưu thế lai và ảnh hưởng bổ sung của các giống. Bên cạnh đó cũng cần áp dụng các biện pháp nuôi dưỡng và quản lý thích hợp. SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA BÒ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Các chỉ tiêu quan trọng đánh giá sinh trưởng và năng suất thịt trong chăn nuôi bò thịt bao gồm: khối lượng tích lũy, tăng khối lượng tuyệt đối, tăng khối lượng tương đối, cao vây, vòng ngực, dài thân chéo, khối lượng hơi, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh, diện tích cơ thăn và thành phần thân thịt. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt gồm: pH sau giết mổ, tỷ lệ mất nước bảo quản/chế biến, màu sắc, độ dai và thành phần hóa học của thịt.
Theo Lyasota và cs (2019) thịt bò được chia thành 3 loại: thịt bình thường là thịt có màu đỏ, chắc và không rỉ nước (RFN); thịt nhạt màu, mềm và rỉ nước (PSE); thịt sẫm màu, săn chắc và khô (DFD).