đặt vấn đề nghiên cứu cho đề tài luận án. Giới thiệu về định hướng nguồn tín hiệu vô tuyến 1. Khái niệm, phân loại Định hướng nguồn tín hiệu vô tuyến là bài toán nhằm xác định hướng (góc) tới của các nguồn tín hiệu vô tuyến lan truyền trong không gian. Thông thường hệ thống (thiết bị) định hướng nguồn tín hiệu vô tuyến được phân loại dựa theo cách thức xử lý tín hiệu hoặc dựa trên kiến trúc hệ thống.
• Dựa trên cách thức xử lý tín hiệu: phương pháp so sánh pha; phương pháp so sánh biên độ; hoặc phương pháp biên độ - pha của tín hiệu thu được bởi ăng ten. • Dựa vào kiến trúc hệ thống: Hệ thống định hướng đơn kênh: sử dụng mảng ăng ten nhiều phần tử trong đó các phần tử được kết nối chung với một máy thu thông qua chuyển mạch cao tần. Tín hiệu thu được từ các phần tử ăng ten được xử lý để xác định hướng sóng tới. Hệ thống định hướng đơn kênh có kiến trúc máy thu đơn giản, nhỏ gọn nhưng có độ chính xác trung bình, thuật toán xử lý phức tạp, bộ chuyển mạch cao tần cần có tốc độ cao.
Hệ thống định hướng đa kênh: sử dụng mảng ăng ten nhiều phần tử trong đó mỗi phần tử ăng ten được kết nối với một máy thu. Mỗi máy thu có vai trò như một bộ tiền xử lý tín hiệu. Tín hiệu đầu ra các máy thu được đưa tới một khối xử lý tín hiệu để xác định hướng sóng tới. Hệ thống định hướng đa kênh có thuật toán xử lý phức tạp hơn nhưng có ưu điểm là độ chính xác và độ phân giải cao, có khả năng xác định được đồng thời nhiều hướng sóng tới mảng ăng ten.
Một số thuật toán thường áp dụng với hệ thống định hướng đa kênh này gồm có: Capon [83], MUSIC [78], ESPRIT [73],. 7 Để đánh giá hiệu năng định hướng của các thuật toán, phương pháp hay mô hình đề xuất, thường dựa trên các tiêu chí cơ bản như sau: - Độ chính xác: Là sai số giữa góc tới xác định được so với góc thực tế của sóng tới. Việc đánh giá độ chính xác thường dựa trên sai số quân phương (RMSE: Root Mean Square Error). - Độ phân giải: Là khả năng định hướng các nguồn tín hiệu gần nhau.
- Tốc độ xử lý: Được đánh giá thông qua độ phức tạp tính toán và thời gian xử lý cho một lần ước lượng. - Khả năng định hướng các nguồn tín hiệu tương quan (cùng tần số và hiệu pha không đổi). - Độ nhạy: Là khả năng định hướng nguồn tín hiệu có SNR nhỏ. - Khả năng kháng nhiễu: Là khả năng loại bỏ (giảm) sự tác động của các loại nhiễu khác nhau.
- Khả năng hiệu chỉnh sai số hệ thống: Là khả năng hoạt động khi có tác động của các sai số hệ thống. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu năng định hướng: - Số phần tử của mảng ăng ten: Số phần tử của mảng có vai trò quyết định đến độ chính xác ước lượng, số lượng phần tử càng nhiều, độ chính xác càng tăng. Số phần tử phải lớn hơn số nguồn tín hiệu tới. Trong thực tế, số phần tử không thể quá lớn để hạn chế kích thước cũng như giá thành hệ thống.
- Khoảng cách giữa các phần tử: là một thông số rất quan trọng của mảng ăng ten. Với mảng tuyến tính đồng đều, thông thường khoảng cách giữa hai phần tử cạnh nhau được chọn nhỏ hơn hoặc bằng nửa bước sóng. Nếu khoảng cách đặt đều nhau và lớn hơn nửa bước sóng sẽ xảy ra hiện tượng đa trị (bất định) khi ước lượng DOA. - Số lượng mẫu tín hiệu: ảnh hưởng tới độ chính xác cũng như độ phân giải của các thuật toán định hướng.
Số lượng mẫu càng nhiều thì độ chính xác sẽ càng cao, tuy nhiên sẽ dẫn tới tăng dung lượng bộ nhớ cũng như khối lượng tính toán. - Tỷ số tín hiệu trên tạp (SNR: Signal to Noise Ratio): Giá trị SNR quyết định rất lớn tới độ chính xác của các thuật toán ước lượng DOA. Giá trị SNR phụ thuộc 8 vào chất lượng thiết kế và chế tạo hệ thống; ngoài ra, nó cũng phụ thuộc vào môi trường hoạt động của hệ thống. Bằng các giải pháp, tăng được giá trị này càng lớn càng tốt.
- Tính tương quan giữa các tín hiệu: Tính tương quan ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phân tách các tín hiệu do chúng có cùng tính chất (cùng tần số, hiệu pha không đổi), do đó cũng ảnh hướng đến độ chính xác ước lượng DOA. Với các tín hiệu tương quan, cần phá vỡ tính tương quan trước khi xác định được hướng tới. Thiết bị định hướng nguồn tín hiệu vô tuyến Thiết bị định hướng nguồn tín hiệu vô tuyến là thiết bị gồm một hoặc nhiều máy thu có ăng ten/hệ ăng ten định hướng, tức có búp sóng hẹp. Để tạo ra búp sóng hẹp có thể sử dụng các dạng ăng ten như: Ăng ten Yagi, ăng ten loa, ăng ten gương parabol, ăng ten thấu kính, ăng ten mảng pha hoặc sự kết hợp giữa chúng.1a) là hệ thống trinh sát, hỗ trợ điện tử do Ukraina sản xuất sử dụng ăng ten Yagi và parabol để thực hiện bài toán định hướng tín hiệu vô tuyến [49].
Giải pháp xác định hướng đến tín hiệu vô tuyến của Kolchuga là đơn xung biên độ và đo giao thoa pha giữa các phần tử ăng ten thu. Việc đo định hướng này chỉ giới hạn trong vùng quan sát (Field of View - FOV) của hệ ăng ten. Để quan sát toàn bộ 360o trong mặt phẳng phương vị, hệ ăng ten phải thực hiện quay cơ học. * Hệ thống SDD (Stanice Dalekého Dosahu (CH Séc)) (Hình 1.1b) là hệ thống trinh sát điện tử do Cộng hòa Séc sản xuất đang sử dụng ăng ten phản xạ parabol kết hợp với các cặp loa thu đặt tại tiêu điểm parabol để tạo búp sóng hẹp trong quá trình thu trinh sát tín hiệu và xác định hướng đến của tín hiệu.
Giải pháp mà hệ thống SDD sử dụng để xác định hướng đến của tín hiệu vô tuyến là phương pháp đơn xung biên độ tổng hiệu [16], [26]. Phương pháp đơn xung biên độ tổng hiệu trong SDD chỉ sử dụng trong vùng FOV (trong giới hạn búp sóng chính) với giới hạn từ -2,5o đến 2,5o. Việc quan sát toàn không gian trong mặt phẳng phương vị cũng được thực hiện bởi phương thức quay cơ học. Với giải pháp này, hệ thống SDD cho khả năng xác định hướng đến của tín hiệu với độ chính xác 0,5o trong điều kiện bước cách góc 0,1o và tín hiệu thu có tỉ số tín/tạp (SNR) lớn hơn hoặc bằng 10 dB.
Một số hệ thống trinh sát điện tử: a) Hệ thống Kolchuga; b) Hệ thống SDD; c) Hệ thống WD-7200. Hiện nay, đa số các hệ thống định hướng nguồn tín hiệu vô tuyến dùng mạng ăng ten mảng pha, trong đó mảng tuyến tính và mảng tròn được sử dụng chủ yếu. Điển hình cho các hệ thống ăng ten có thể kể đến như hệ thống WD-7200, WD-3300 và WD-6300 do công ty MORCOM sản xuất [29]. Hệ thống WD-7200 (Hình 1.1c) hoạt động ở dải tần số từ 200 MHz đến 2 GHz có sai số quân phương xác định hướng đến của tín hiệu đạt 2o.
Việc quét búp sóng có thể thực hiện bằng quét cơ học hoặc điều khiển điện tử. Mỗi loại ăng ten và phương pháp quét búp sóng có những ưu và nhược điểm khác nhau, ví dụ ăng ten parabol và ăng ten thấu kính có khả năng cho búp sóng hẹp bằng cách tạo ra các tia sóng song song, nhưng chúng lại cần hệ thống quét cơ học để quan sát toàn bộ không gian phương vị và góc tà. Cơ chế quét cơ học cũng có lợi thế là đặc trưng giản đồ hướng của hệ ăng ten gần như không đổi trong quá trình quét. Ăng ten mảng pha có khả năng tạo búp sóng hẹp và quét búp sóng trong không gian bằng cách điều khiển sự thay đổi pha và biên độ tại mỗi phần tử của mảng.
Lợi thế của ăng ten mảng pha là thực hiện quét búp sóng rất nhanh nhờ cơ chế biến đổi pha bằng điều khiển điện tử. Tuy nhiên, trong quá trình quét búp sóng trong không gian, giản đồ búp sóng của ăng ten mảng pha lại bị biến dạng. Do đa phần các thiết bị định hướng nguồn tín hiệu hiện nay chủ yếu dùng ăng ten mảng pha nên trong phạm vi Luận án chỉ xem xét đến loại ăng ten này, chi tiết sẽ được trình bày ở Mục 1. Mô hình tín hiệu mảng ăng ten 1.
Mô hình tổng quát Trước khi thực hiện các phân tích cho các mô hình mảng ăng ten, cần giới hạn các điều kiện của việc thu - phát tín hiệu như sau [109]: - Môi trường truyền sóng là đẳng hướng và tuyến tính: Giả sử có P nguồn phát ra P tín hiệu. Những tín hiệu này truyền qua môi trường và đi tới mảng ăng ten M phần tử. Môi trường truyền giữa các nguồn phát và mảng ăng ten được giả định là đẳng hướng và tuyến tính; nghĩa là các tính chất vật lý của quá trình truyền sóng là giống nhau tại mọi hướng và có thể chồng chất điện từ trường một cách tuyến tính tại mọi điểm. Theo đó, tính chất đẳng hướng và tuyến tính của môi trường truyền sóng đảm bảo: (1) tính chất truyền sóng không bị thay đổi với các hướng của tín hiệu; và (2) các tín hiệu truyền qua môi trường tới mọi phần tử của mảng ăng ten có thể được tính toán như một sự chồng chất tuyến tính của P mặt sóng tín hiệu được tạo ra bởi P nguồn.
- Giả thiết trường xa: Các nguồn phát tín hiệu được đặt ở khoảng cách xa mảng ăng ten, do đó mặt sóng được tạo ra bởi mỗi nguồn đến tất cả các phần từ ăng ten tại một hướng truyền sóng và mặt sóng là mặt phẳng (hay còn gọi là sóng phẳng). Như vậy, các tia sóng từ một nguồn phát đến các phần tử ăng ten của mảng là song song với nhau. Một nguồn được xem là ở trường xa khi thỏa mãn điều kiện khoảng cách từ nguồn đó đến mảng ăng ten là rất lớn so với 2 DA2 / , với DA là khẩu độ của mảng ăng ten và là bước sóng của tín hiệu. - Tín hiệu băng hẹp: Nếu băng thông B = 2∆ω và ≪ 1, khi đó chúng ta có c tín hiệu băng hẹp.
Có thể coi các tín hiệu từ P nguồn có cùng một tần số sóng mang fc. - Kênh nhiễu trắng phân bố Gauss: Nhiễu được giả định là có phân bố Gauss với giá trị trung bình bằng 0, có cùng phương sai là N2 tại tất cả các phần tử của mảng.