Chương 1 Những khái niệm cơ bản trong tài chính 1.1 Hàng hóa Hàng hóa (Commodity) là những sản phẩm như kim loại quý, dầu mỏ, thực phẩm,. Những sản phẩm này được trao đổi để phục vụ nhu cầu của đời sống hàng ngày từ đó tạo ra giá trị cho hàng hóa. Giá của chúng khó dự đoán trước được nhưng thường xuyên thay đổi theo mùa vụ và theo nhu cầu sử dụng. Khi những sản phẩm khan hiếm sẽ đẩy giá của hàng hóa tăng cao.
Hàng hóa có thể được buôn bán bởi những người không thực sự có nhu cầu sử dụng nó mà chỉ dự trữ và phân phối nó. Đa số các giao dịch được thực hiện trên thị trường tương lai, mua hoặc bán tại một số thời điểm trong tương lai. Các giao dịch này sau đó được đóng lại trước khi hàng hoá được giao. Ở những phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về việc thực hiện những giao dịch trong tương lai như thế nào qua hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn,.2 Tiền tệ Đã từ rất lâu, khi mà trình độ sản xuất ngày càng phát triển và nhu cầu trao đổi hàng hóa của con người ngày càng tăng cao đòi hỏi một vật trao đổi ngang giá thuận tiện hơn ngoài kim loại, đá quý.
Từ đó tiền ra đời và là vật ngang giá được sử dụng phổ biến nhất trong các hoạt động thương mại cho đến nay. Tiền thường được nhà nước phát hành và bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, bạc, đá quý, trái phiếu, ngoại tệ. Tiền thường được làm bằng giấy, kim loại và gần đây nhất là tiền điện tử được một thuật toán mã hóa trên một mạng máy tính phát hành như Bitcoin, Ethereum. Tiền tệ (Currency) chỉ là tiền đơn thuần khi được sử dụng để trao đổi và thanh toán, là một hệ thống tiền lưu thông khi phục vụ việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia hay một nền kinh tế, được ban hành và điều tiết bởi nhà nước của quốc gia đó.
Mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ sẽ quy định một đơn vị tiền tệ (thường có tên gắn với tên quốc gia đó) và đảm bảo giá trị cho nó như VNĐ, USD, Yen. Sự khác nhau của giá trị tiền tệ giữa các quốc gia tạo ra các giao dịch tiền tệ và hình thành lên thị trường trao đổi ngoại tệ. Một vài đơn vị tiền tệ được coi là đơn vị giao dịch chung như USD, EURO, Pound còn một vài đơn vị tiền tệ khác được thả nổi tự do nhưng phải đảm bảo sự nhất quán về tỷ lệ trao đổi. Thị trường giao dịch tiền tệ cũng là thị trường giao dịch cơ sở để tạo những thị trường giao dịch khác như thị trường vàng, thị trường chứng khoán, .3 Giá trị thời gian của tiền Trong thực tế, giá trị của tiền luôn thay đổi, 1 đồng của ngày hôm nay có thể có giá trị nhiều hơn hoặc ít hơn sau một năm tới.
Điều này phụ thuộc vào những gì ta làm với 1 đồng đó. Chúng ta có thể cất giữ tiền vào một nơi bí mật nào đó, qua một năm, nền kinh tế xảy ra lạm phát, khi đó, giá trị của 1 đồng đã bị 12 1. GIÁ TRỊ THỜI GIAN CỦA TIỀN giảm so với giá trị ban đầu của nó. Ngược lại, nếu nền kinh tế tăng trưởng, giá trị của đồng tiền tăng cao, khi ấy giá trị của 1 đồng tăng lên so với giá trị ban đầu của nó.
Bên cạnh việc cất giữ tiền chúng ta cũng có thể mang tiền đi đầu tư như cho vay hoặc gửi ngân hàng,. lúc này giá trị của đồng tiền phụ thuộc vào lãi suất hay lợi nhuận thu được từ số tiền ban đầu. Từ đó, đòi hỏi chúng ta phải có các mô hình và cách thức tính lãi suất để tránh rủi ro và thu được lợi nhuận cao nhất. Dưới đây là một số cách tính lãi suất phổ biến.1 Lãi đơn Giả sử một người gửi vào ngân hàng một số tiền P , với lãi suất r > 0 (ở đây, ta coi r là một hằng số) và thời hạn là n năm.
Lãi đơn (simple interest) là số tiền lãi người đó nhận được chỉ dựa trên số tiền gửi P ban đầu. Tức là số tiền lãi sau mỗi kỳ tính lãi sẽ không sinh lời trong kỳ tiếp theo mà được trả cho người gửi bằng tiền mặt hoặc một hình thức thanh toán nào đó. Ví dụ, nếu ta coi đơn vị thời gian tính lãi là theo năm, sau một năm số tiền lãi thu được là rP. Khi đó giá trị của khoản đầu tư sẽ là V (1) = P + rP = (1 + r)P.
Sau 2 năm giá trị của khoản đầu tư sẽ là V (2) = V (1) + rP = P + rP + rP = (1 + 2r)P. Và như vậy, sau n năm giá trị của khoản đầu tư sẽ là V (n) = (1 + nr)P. Thông thường, người ta thường tính lãi theo đơn vị thời gian ngày thay vì đơn vị thời gian năm. Khi đó, số tiền lãi thu được sau một ngày sẽ là 365 1 rP (ở đây, ta quy ước số ngày trong 1 năm là 365 ngày, quy ước này tùy theo quy ước của thị trường).
Như vậy, số tiền lãi sau n ngày là 365 n rP và tổng giá trị của khoản 13 1. GIÁ TRỊ THỜI GIAN CỦA TIỀN đầu tư sau n ngày sẽ là n n V = 1+ r P.2 Lãi gộp Tương tự như lãi đơn, chúng ta cũng giả sử rằng, một người gửi vào ngân hàng một số tiền P với lãi suất không đổi r > 0 được trả hàng năm, thời hạn là n năm. Tuy nhiên, khác với trường hợp lãi đơn, trong trường hợp này, số tiền lãi sau mỗi kỳ được trả sẽ được gửi tiếp cùng với số tiền vốn ban đầu vào kỳ tiếp để sinh lời. Như vậy, không chỉ có số tiền gốc sinh ra lãi mà cả số tiền lãi cũng tiếp tục sinh ra lãi và được gọi là lãi gộp (compound interest).
khi đó, sau một năm số tiền cả gốc lẫn lãi sẽ là V (1) = P + rP = (1 + r)P. Nhưng lần này, sau 2 năm số tiền sẽ là V (2) = V (1) + V (1)r = (P + rP ) + (P + rP )r = (1 + r) 2 P. Tiếp tục như vậy, sau n năm giá trị của khoản đầu tư sẽ là V (n) = (1 + r)nP. Bây giờ, ta giả sử số tiền lãi được trả m lần mỗi năm, khi đó, lãi suất mỗi lần sẽ là mr và số cả gốc lẫn lãi sau lần 1 sẽ là 1 r V = 1+ P.
m m Số tiền lần 2 sẽ là 2 2 1 1 r r V =V +V = 1+ P. m m m m m Số tiền sau m lần (sau 1 năm) sẽ là m r V (1) = 1 + P. TRÁI PHIẾU Và như vậy, sau n năm giá trị của khoản đầu tư sẽ là r nm V (n) = 1 + P.1) m Lãi gộp có hai loại là lãi gộp rời rạc (discretely compounded) và lãi gộp liên tục (continuously compounded). Lãi gộp rời rạc chính là những gì vừa được trình bày ở trên.
Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về lãi gộp liên tục. Giả sử, các kỳ trả lãi ngày càng thường xuyên hơn, tức là khoảng thời gian giữa những lần trả lãi ngày càng nhỏ (m càng lớn) và như vậy lãi suất cũng ngày càng nhỏ (r càng nhỏ).1) sẽ trở thành m nr r r V (n) = 1+ P = enr P.2) m Bởi vì, áp dụng công thức tính giới hạn cơ bản 1 x lim 1+ = e.2) được gọi là công thức tính lãi gộp liên tục.4 Trái phiếu Trái phiếu (Bond) là một công cụ đầu tư phi rủi ro, tức là khoản đầu tư mà được đảm bảo sẽ gần như không bị mất hoặc giảm giá trị so với giá trị ban đầu. Trái phiếu là một chứng nhận ghi nợ của người phát hành trái phiếu đối với người giữ hoặc mua trái phiếu trong một thời hạn với một khoản lợi suất (yield) đã thống nhất. Khi hết thời hạn ghi nợ, người phát hành trái phiếu phải có nghĩa vụ trả cả vốn lẫn lợi suất cho người mua hoặc sở hữu trái phiếu.
Ở một số thị trường, trái phiếu được phát hành vô thời hạn và lợi suất được trả đều theo kỳ hạn đã cam kết. CỔ PHIẾU Lợi suất của trái phiếu được tính theo 2 cách thông dụng sau: Lợi suất cố định là lợi suất được trả lãi định kỳ đã được thống nhất trước, thường là 6 tháng hoặc 1 năm và không được thay đổi cho đến ngày đáo hạn. Lợi suất thả nổi là lợi suất cũng được trả theo định kỳ cho đến khi đáo hạn nhưng giá trị lại thay đổi dựa trên sự biến động của thị trường do trái phiếu cũng có thể mua đi bán lại trên thị trường nên giá trị cũng biến động theo thị trường. Trái phiếu được phát hành bởi nhiều đối tượng khác nhau.
Trái phiếu có thể được phát hành bởi chính phủ được gọi là trái phiếu chính phủ. Bên cạnh đó, trái phiếu cũng có thể được phát hành bởi chính quyền địa phương gọi là trái phiếu địa phương. Ngoài ra trái phiếu còn được phát hành bởi các công ty, tổ chức kinh doanh và được gọi chung là trái phiếu doanh nghiệp.5 Cổ phiếu Một công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, tức là được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được huy động từ các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế và được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần (share).
Người nắm giữ cổ phần trong công ty gọi là cổ đông (shareholder). Cổ phiếu (Stock) là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Khi một công ty cổ phần muốn phát triển lớn hơn, công ty đó có thể phát hành thêm cổ phiếu để gọi vốn. Khi đó người mua cũng là cổ đông của công ty.
Khi làm như vậy, tỷ lệ sở hữu công ty của mỗi cổ phiếu sẽ giảm đi, nhưng ngược lại tổng giá trị công ty lại tăng lên. Lợi nhuận của công ty sẽ được giữ lại một phần để phát triển công ty, phần còn lại sẽ được trả cho cổ đông theo một cách tỷ lệ thuận với số cổ phần mà cổ đông đang nắm giữ và được gọi là cổ tức (dividend). Cổ tức thường được trả cho cổ đông theo quý hoặc 6 tháng 16 1. NGUYÊN LÝ PHI CƠ LỢI một lần.