Chương 1 - Giới thiệu đề tài: Lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu được trình bày trong chương này. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này trình bày cơ sở lý thuyết, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. 6 Chương 3 - Phương pháp và thiết kế nghiên cứu: Trình bày chi tiết về quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo, phương pháp nghiên cứu sơ bộ và phương pháp cho nghiên cứu chính thức. Chương 4 - Kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu sơ bộ, kết quả nghiên cứu chính thức và thảo luận kết quả.
Chương 5 - Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt nội dung nghiên cứu, tóm tắt kết quả nghiên cứu, so sánh với các công trình trước đây, kết luận, đưa ra kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu các lý thuyết về dịch vụ mạng xã hội, mô hình chấp nhận công nghệ và các khái niệm trong mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương này gồm các phần chính: (1) mạng xã hội, (2) mô hình chấp nhận công nghệ (3) mạng xã hội và chấp nhận công nghệ, (4) mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 2.1 Mạng xã hội: Mạng xã hội có thể hiểu rộng như là Internet hoặc các thiết bị di động dựa trên không gian xã hội được thiết kế tạo điều kiện thông tin liên lạc, hợp tác và chia sẻ nội dung trên mạng thông qua các kết nối mạng. Mạng xã hội cho phép các cá nhân xây dựng một hồ sơ cá nhân công khai hoặc bán công khai trên nền tảng của dịch vụ đó với một danh sách các người dùng khác mà họ chia sẻ kết nối và có thể xem qua các danh sách của những người khác về kết nối được thực hiện thông qua mạng xã hội đó (Ellison &ctg, 2007).
Mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng xã hội đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới. Các mạng xã hội này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo nhóm (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán… Theo thống kê về số lượng người sử dụng của statista 2015 (Hình 2-1), facebook đang là mạng xã hội có được số lượng người dùng lớn nhất thế giới với hơn 1.4 tỉ tài khoản sử dụng, tiếp sau đó là các mạng xã hội như QQ, WhatsApp, QZone, Google+, Linkedln. 8 Hình 2-1: Số lượng người dùng mạng xã hội (Statista, 2015) 2.1 Đặc điểm của mạng xã hội: Theo một nghiên cứu 2007 được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu từ đại học Rice, đại học Maryland và viện Max Planck phân tích ra được những đặc điểm của mạng xã hội (Mislove & ctg, 2007) bao gồm: Dựa trên người dùng: Mạng xã hội được xây dựng và định hướng bởi chính người sử dụng.
Người dùng sẽ quyết định nội dung của các trang mạng xã hội, sự định hướng nội dung được xác định bởi bất cứ ai tham gia vào mạng xã hội đó. Đây là chính là những điều thú vị và tính động tạo nên sự hấp dẫn của mạng xã hội. 9 Tính cá nhân: Mỗi thành viên trên mạng xã hội đều có một hồ sơ với một trang cá nhân của riêng mình. Người dùng có thể thiết lập các thông tin cá nhân, đăng tải các bài viết, trạng thái… và thiết lập tính riêng tư cho nó, có thể công khai toàn bộ hoặc công khai một phần trong giới hạn một số thành phần bạn bè của nó.
Tính tương tác: Các thành viên có thể tương tác với nhau thông qua các kênh giao tiếp của mạng xã hội như: trò chuyện, email, tham gia vào các nhóm, hoặc tham gia các trò chơi trực tuyến trên mạng xã hội đó. Tính cộng đồng: Mạng xã hội được xây dựng và duy trì dựa trên các đặc tính của cộng đồng, các nhóm được thiết lập dựa trên sở thích, niềm tin, công việc, học tập… và những đóng góp về kiến thức sẽ giúp phát triển mạng xã hội đó. Tính quan hệ: Mạng xã hội cho phép các thành viên thoải mái lựa chọn và phát triển các mối quan hệ của mình thông qua tính cộng đồng của nó. Các thành viên có càng nhiều mối quan hệ trong mạng xã hội thì sẽ có nhiều cơ hội thiết lập thêm nhiều mối quan hệ khác dựa trên mối quan hệ sẵn có của thành viên đó.
Tính cảm xúc: Mạng xã hội có một tính năng vượt trội so với những trang web khác, mạng xã hội không những cung cấp nội dung mà nó còn hỗ trợ người dùng chia sẻ thông tin và kèm theo những cảm xúc thông qua trạng thái, biểu tượng và đặc biệt là sự chia sẻ của cộng đồng bạn bè trên mạng xã hội của thành viên đó. Tóm lại, những tính chất trên cho thấy mạng xã hội mang nhiều đặc điểm về xã hội học hơn so với những hệ thống khác như website, blog.2 Mô hình chấp nhận công nghệ Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), được phát triển bởi Davis (1989) (Hình 2-1) là một trong những mô hình được áp dụng rộng rãi nhất được sử dụng để giải thích sự chấp nhận hệ thống thông tin của các cá nhân. TAM là một hệ thống thông tin lý thuyết được chuyển thể từ lý thuyết hành động (TRA), được thiết kế đặc biệt cho mô hình chấp nhận hệ thống thông tin của các người dùng tiềm năng. Mục đích của TAM là dự đoán sự chấp nhận và chuẩn đoán các vấn đề thiết kế trước khi người dùng sử dụng thực sự hệ thống thông tin 10 mới.
Vì vậy, TAM đã được sử dụng rộng rãi cho các mục đích dự đoán, giải thích và tăng sự hiểu biết về sự chấp nhận sử dụng các hệ thống thông tin trong các lĩnh vực khác nhau. TAM cho thấy rằng khi các cá nhân gặp phải các công nghệ hệ thống thông tin mới, hai biến chính ảnh hưởng như thế nào và khi nào khi các cá nhân sẽ sử dụng hệ thống. Hai biến chính của TAM là: cảm nhận dễ sử dụng và cảm nhận hữu dụng. Cảm nhận hữu dụng được gọi là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất đối với công việc của họ (Davis, 1989).
Cảm nhận dễ sử dụng được gọi là “mức độ mà người ta tin rằng sử dụng hệ thống một cách dễ dàng” (Davis, 1989). TAM đề xuất rằng niềm tin vào cảm nhận hữu dụng và cảm nhận dễ sử dụng sẽ ảnh hưởng đến thái độ của người dùng hệ thống thông tin. Thái độ của người dùng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi dự định để sử dụng và tiếp sau đó là việc sử dụng thực tế hệ thống. Cảm nhận hữu dụng và cảm nhận dễ sử dụng cả hai đều có ảnh hưởng đến hành vi dự định.
Cảm nhận dễ sử dụng cũng ảnh hưởng đến cảm nhận hữu dụng. Hành vi dự định cũng bị ảnh hưởng gián tiếp bởi các biến bên ngoài thông qua cảm nhận hữu dụng và cảm nhận dễ sử dụng. Hình 2-1: Mô hình chấp nhận công nghệ (Davis, 1989) 11 2.3 Sử dụng mạng xã hội và chấp nhận công nghệ Sự phát triển của công nghệ thông tin đã mang đến hàng loạt những tính năng và ứng dụng hữu ích trên mạng Internet, đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nhu cầu và thị hiếu của những người dùng ngày càng cao đòi hỏi các ứng dụng trên Internet phải có những yếu tố đặc biệt và quan trọng nhất phải tạo được sự liên kết giữa các cá nhân với nhau vì nhu cầu xã hội của con người là rất lớn. Chính vì thế, trong tất cả các ứng dụng, dịch vụ nổi trội nhất vẫn là mạng xã hội.
Từ khi mạng xã hội ra đời nó đã mang đến những thay đổi tích cực trong đời sống của mọi người, mạng xã hội cung cấp những tính năng cần thiết và hữu ích giúp cho con người có thể chia sẻ thông tin, giao tiếp, mua bán hay quảng bá hình ảnh… tạo sự liên kết xã hội của các thành viên trên mạng xã hội với nhau. Từ khi mạng xã hội ra đời, nó đã tạo ra nhiều thay đổi trong cách thức kết nối giữa các cá nhân với nhau và đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của các cư dân mạng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng đó, một loạt các nghiên cứu xoay quanh vấn đề thói quen, ý định về việc sử dụng mạng xã hội ngày càng được thực hiện nhiều chẳng hạn như Roblyer & ctg năm 2010 nghiên cứu về việc sử dụng mạng xã hội Facebook giữa các sinh viên và các nhân viên trong trường đại học để xem xét khả năng sử dụng mạng xã hội phục vụ cho công việc học tập và làm việc của mình. Kết quả trong nghiên cứu cho thấy, sinh viên ở trường đại học sử dụng mạng xã hội Facebook thường xuyên hơn để phục vụ hỗ trợ cho công việc trong lớp học nhiều hơn so với các nhân viên trong trường đại học, các nhân viên vẫn sử dụng cách sử dụng truyền thống để trao đổi và làm việc đó là sử dụng thư điện tử.
Một nghiên cứu khác của Lin & ctg năm 2011 cho thấy dự định tiếp tục sử dụng mạng xã hội hay không phụ thuộc vào tính giải trí của mạng xã hội đó, đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiếp tục sử dụng mạng xã hội, bên cạnh đó số lượng các đồng nghiệp và sự hữu dụng của mạng xã hội sẽ tác động mạnh đến dự định tiếp tục sử dụng mạng xã hội của người dùng. Nghiên cứu của Kwon & ctg năm 2010 với mô hình chấp nhận công nghệ TAM hiệu chỉnh, cho thấy cảm nhận hữu dụng tác động mạnh đến việc sử dụng mạng xã hội, khi các thành viên trên mạng xã hội tin rằng những cải tiến trên mạng xã hội sẽ làm tăng tính hiệu quả của việc chia sẻ thông tin hoặc kết nối với mọi người của họ.