Mở đầu khu vực Đông Nam Á. Do đó ứng dụng GIS và Viễn thám trong nghiên cứu trượt đất tại khu vực tỉnh Lâm Đồng là nghiên cứu có ý nghĩa khoa học. Hơn nữa phương pháp tiếp cận và các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng như tài liệu tham khảo tốt cho những nghiên cứu tương tự tại các khu vực, địa bàn nghiên cứu khác. Ý nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu hữu ích để xác định các khu vực có nguy cơ trượt đất tại Lâm Đồng, từ đó các cơ quan quản lý có thể đưa ra biện pháp phù hợp trong phòng chống trượt lở đất, đảm bảo được đời sống kinh tế và xã hội của người dân, đặc biệt là khu vực miền núi.
HVTH: Vũ Minh Tuấn 4 GVHD: TS. Vũ Xuân Cường Chương II – Tổng quan về tình hình nghiên cứu CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Vị trí địa lý Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Nguyên có độ cao trung bình từ 800 - 1.000m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.773,54 km2; địa hình tương đối phức tạp chủ yếu, là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật,. và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.
Vị trí như sau: - Phía Đông giáp các tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận; - Phía Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai; - Phía Nam – Đông Nam gáp tỉnh Bình Thuận; - Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk.000000 8 BẢN ĐỒ HÀNH CHÁNH 1250000.000000 CHÚ DẪN TỈNH LÂM ĐỒNG Tªn HuyÖn B¶o L©m C¸t Tiªn Di Linh L©m Hw L¹c Do¬ng L¹c Dx¬ng TP.§w L¹t §am R«ng §a Huoai §a TÎh §am R«ng §¬n Do¬ng TP.§{ L¹t §øc Träng Đường giao thông Sông, suối L©m H{ §¬n Dx¬ng B¶o L©m C¸t Tiªn §øc Träng §a TÎh TP.B¶o Léc Di Linh §a Huoai 740000.1: Bản đồ hành chánh tỉnh Lâm Đồng Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn; nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn. Toàn tỉnh có HVTH: Vũ Minh Tuấn Trang 5 GVHD: TS. Vũ Xuân Cường Chương III – Cơ sở lý thuyết thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc. Điều kiện tự nhiên 2.
Địa hình Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật,. và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng. Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ Bắc xuống Nam. - Phía Bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.
- Phía Đông và Tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1. - Phía Nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên. Địa chất Tham gia vào cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có tuổi từ Jura giữa đến Đệ Tứ. Các trầm tích, phun trào được phân ra 14 phân vị địa tầng có tuổi và thành phần đá khác nhau.
Các đá xâm nhập trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 Hệ tầng: Định Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mông. Địa phận tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía Đông Nam đới Đà Lạt. Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri bị sụt lún trong Jura sớm – giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi muộn và Kainozoi. Thổ nhưỡng Lâm Đồng có diện tích đất 977.354 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhóm đất và 45 đơn vị đất: Nhóm đất phù sa (fluvisols), Nhóm đất glây (gleysols), Nhóm đất mới biến đổi (cambisols), Nhóm đất đen (luvisols), Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols), Nhóm đất xám (acrisols), Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols), Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols).
Đất có độ dốc dưới 25o chiếm trên 50%, đất dốc trên 25o chiếm gần 50%. Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng HVTH: Vũ Minh Tuấn 6 GVHD: TS. Vũ Xuân Cường Chương III – Cơ sở lý thuyết 255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm. Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại, có những loại giá trị phẩm cấp cao.
Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thác thấp vì bị úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết von, độ màu mỡ thấp, hệ số sử dụng không cao,. Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trống đồi trọc (khoảng 40%). Khí hậu Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm.
Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm. Lượng mưa trung bình 1.932 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới. Đặc biệt, Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân. Thủy văn Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thủy điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng.
Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km2 với độ dốc đáy nhỏ hơn 1%. Phần lớn sông suối chảy từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam. HVTH: Vũ Minh Tuấn 7 GVHD: TS. Vũ Xuân Cường Chương III – Cơ sở lý thuyết Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn.
Ba sông chính ở Lâm Đồng là: Sông Đa Dâng, Sông La Ngà, Sông Đa Nhim. Hệ thống cấp nước đã hoàn thiện tương đối tốt, hiện có: nhà máy cấp nước Đà Lạt, công suất 35.000 m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước thị xã Bảo Lộc, công suất 10.000 m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Đức Trọng, công suất 2.500 m3/ngày- đêm; hệ thống cấp nước huyện Di Linh, công suất 3.500 m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6. Đồng thời với việc cấp nước, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoàn thiện. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Các nghiên cứu ngoài nước - Các nghiên cứu về hiện tượng trượt lở đất được nhiều nước ứng dụng, đặc biệt là các nước ở khu vực nhiệt đới, có độ dốc và lượng mưa lớn. Các ứng dụng về GIS và Viễn thám trong nghiên cứu trượt lở đất cũng được sử dụng khá phổ biến. Tác giả Chyi-Tyi Lee, tại Viện Địa chất ứng dụng ở ĐH Quốc Gia Đài Loan đã sử dụng ảnh SPOT kết hợp với GIS nhằm xác định lớp thực phủ (NDVI) và mô hình DEM để thăm dò và xác định các khu vực trượt lở đất tại lưu vực Shihmen Reservoir miền Bắc Đài Loan. Phương pháp này cũng được tác giả Biswajeet Pradhan tại viện Công nghệ cao, thuộc ĐH Putra ở Malaysia thực hiện nhưng có sử dụng mạng Neural Network để thực hiện.
- Các nghiên cứu về địa hình kết hợp với hiện trạng sử dụng đất để nghiên cứu cũng được sử dụng rộng rãi. Ramakrishman ở viện Viễn Thám, ĐH Anna - Ấn Độ đã thực hiện đề tài quản lý các khu vực trượt lở đất dựa trên mức độ ảnh hưởng của các nhân tố về độ dốc, ảnh viễn thám, bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng sử dụng đất để dự báo các khu vực nhạy cảm. Tác giả Younus Ahmed Khan thực hiện dựa trên trọng số của từng nhân tố để tính toán chỉ số LHI kết hợp với công cụ GIS để thành lập bản đồ dự báo các khu vực nhạy cảm trượt lở đất để thực hiện đề tài xây dựng bản đồ trượt lở đất tại thành phố Chittagong, Bangladesh. HVTH: Vũ Minh Tuấn 8 GVHD: TS.
Vũ Xuân Cường Chương III – Cơ sở lý thuyết Nhìn chung hướng nghiên cứu trượt lở đất trên thế giới rất đa dạng về phương pháp, trong đó tập trung nhiều trong ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS kết hợp với địa chất, khí hậu, địa hình và thực vật để đánh giá, dự báo các vùng nhạy cảm trượt lở đất. Các khu vực nghiên cứu trên thế giới tập trung tại các khu vực có địa hình phức tạp, đồi núi nhiều như các khu vực ở Châu Á, Bắc Mỹ, Trung Mỹ,… Bước đầu các nghiên cứu này đã chỉ ra rõ các nguyên nhân dẫn đến trượt lở đất và xác định được các khu vực thường xuyên trượt lở đất trong tương lai, từ đó đưa ra các dự báo chính xác. Đây cũng là một hướng nghiên cứu mới cần áp dụng tại Việt Nam. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, nghiên cứu trượt lở đất cũng được thực hiện vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 với các hướng nghiên cứu tập trung vào xác định hiện trạng các khu vực thường xuyên trượt lở đất, từ đó đưa ra các hướng đề xuất phòng chống trượt lở đất.