Chương 1: Tổng quan. Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu. HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 2 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc Chương 2: Giới thiệu về năng lượng gió và tuabin gió, một số công nghệ tuabin điện gió.
Năng lượng từ gió và quá trình chuyển hoá năng lượng gió thành điện năng cũng như chất lượng của năng lượng điện từ gió. Tiềm năng của điện gió tại Việt Nam. Chương 3 : Ảnh hưởng của máy phát điện gió phân tán lên hệ thống điện. Trình bày các ảnh hưởng của điện gió khi tham gia kết nối vào hệ thống điện và nêu một số biện pháp thường sử dụng để điều chỉnh điện áp hệ thống.
Chương 4 : Chất lượng điện năng trên lưới điện khi có các nhà máy điện gió tham gia vào hệ thống – Các điều kiện để đấu nối nhà máy điện gió vào hệ thống điện. Trình bày các thông số đặt trưng cho chất lượng điện năng và chất lượng điện năng của điện gió. Trình bày các ảnh hưởng cuả nhà máy điện gió lên hệ thống điện (xét về chất lượng điện áp). Trình bày các tiêu chuẩn, điều kiện để nhà máy điện gió được đấu nối vào hệ thống điện.
Chương 5 : Bài toán mô phỏng ảnh hưởng hệ thống điện khi có điện gió tham gia. Trình bày về phần mềm PScad và các thông số của hệ thống điện tỉnh Bình Thuận. Trình bày các kết quả mô phỏng – từ đó rút ra các nhận xét, đánh giá. Chương 6 : Kết luận, hạn chế và hướng phát triển của đề tài.
Nêu các kết quả đã thu được trong luận văn, đưa ra nhận xét và hướng phát triển của đề tài. Nêu các hạn chế của đề tài. HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 3 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc Chương 2: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG GIÓ VÀ TUABIN GIÓ 2.
Gió và năng lượng từ gió 2. Mục đích Năng lượng gió trên thế giới hiện đang trong thời kỳ phát triển mạnh nhất, đặc biệt là các Nước Cộng đồng Châu Âu và và Bắc Mỹ (Hoa kỳ, Canada), Trung Quốc. Công nghệ tuabin điện gió có thể giải quyết được các vấn đề: Cạn kiệt nguồn tài nguyên hóa thạch, hiệu ứng nhà kính đặt biệt là những nước có vùng biển dài và tiềm năng gió lớn như Việt Nam. Tình hình phát triển năng lượng gió thế giới trong 3 năm gần đây không ngừng tăng lên, thống kê đến giữa năm 2013, tổng công suất lắp đặt năng lượng gió đạt 318GW.1: Công suất lắp đặt tuabin gió trên thế giới.
(Nguồn World Wind Energy Association năm 2013, www.org) Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã vượt lên đứng đầu thế giới với hơn 80GW, tiếp theo là Mỹ, Đức. Tây Ba Nha. Trong 3 năm gần đây, công suất lắp đặt tuanbin điện gió ngày càng tăng với tốc độ nhanh, tính đến giữa năm 2013, công suất lắt đặt đạt hơn 296,2GW. HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 4 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.
Nguyễn Hữu Phúc Bảng 2.1: Công suất lắp đặt tuabin gió trong 3 năm gần đây nhất của 15 nước dẫn đầu thế giới.2 : Tỷ lệ lắp đặt tuabin điện gió của 15 nước lớn nhất thế giới. (Nguồn World Wind Energy Association năm 2013, www.org) HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc Trong hình 2.2 cho thấy trong những năm gần đây, khu vực Châu Á, mà đặt biệt là Trung Quốc đang phát triển dung lượng lắp đặt tuabin gió nhanh nhất thới giới, hiện nay Trung Quốc là nước dẫn đầu về công suất lắp đặt tuabin điện gió và dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia có tiềm năng về gió rất lớn, với bờ biển trên 3000km, theo khảo sát của Ngân hàng thế giới (WB), năng lượng gió của Việt Nam có tổng công suất 513.360 MW, gấp 200 lần công suất của nhà máy thủy điện Sơn La và gấp 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020.
Năm 2007, EVN cũng đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng gió, xác định các vùng thích hợp cho phát triển điện gió trên toàn lãnh thổ với công suất kỹ thuật 1. Trong đó miền Trung Bộ và Tây Nguyên được xem là có tiềm năng gió lớn nhất cả nước với khoảng 880 MW tập trung ở hai tỉnh Quảng Bình và Bình Định, tiếp đến vùng có tiềm năng thứ hai là miền Nam Trung Bộ với công suất khoảng 855 MW, tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Năng lượng gió rất cần thiết cho những nơi biển đảo và vùng đồi núi xa xôi. Nhất là ở các đảo như Trường Sa (Khánh Hòa), Phú Quý (Bình Thuận)…, vừa có nhiều tiềm năm về gió mà giảm bớt chi phí khi truyền tải điện từ đất liền ra.
Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) đã đầu tư nhiều cột đo gió khắp cả nước để đánh giá về tiềm năng phát triển điện gió ở Việt Nam. Đây là kết quả đo tốc độ gió (ở độ cao 80m) được EVN công bố năm 2010.2: Tiềm năng gió tại Việt Nam (nguồn EVN). Ngân hàng thế giới (WB) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã tiếp hành lắp đặt nhiều trạm đo gió dọc theo miền Trung Việt Nam để đánh giá chính xác hơn tiềm năng gió tại Việt Nam vào năm 2009 và 2010. Qua đó, nhận thấy tốc độ gió trung bình ở Việt Nam vào khoảng 6 m/s đến 8 m/s, và khá ổn định.
HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc Bảng 2.3: Tốc độ gió tại một số tỉnh thành ở Việt Nam (nguồn EVN). Dung lượng điện gió tính đến năm 2011 đạt khoảng 79.000KWh, có nhiều dự án điện gió đã và đang được triển khai như: + Tuy Phong - Bình Thuận: công suất lắp đặt nhà máy điện Tuy Phong 1 (Giai đoạn 1: 30MW đã hoàn thành và giai đoạn 2: 90MW) - Chủ đầu tư là Công ty CP năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN). Ngoài ra, còn có nhiều dự án đã được quy hoạch và đang triển khai vay vốn, lập thiết kế như: Phú Lạc (50MW), Vĩnh Hảo (60MW), Thuận Nhiên Phong (50MW).
+ Phú Quý – Bình Thuận: Dự án gió kết hợp máy phát Diesel công suất lắp đặt 9MW (3 tuabin gió x 2MMW/1tuabin + 6 máy phát Diesel x 0,5MW/máy). + Bạc Liêu: Giai đoạn 1 công suất lắp đặt 16MW (10 tuabin x 1,6MW/1tuabin), đến giai đoạn 2 công suất đạt 120MW (2012-1014). + Ngoài ra còn nhiều dự án khác đã được quy hoạch và đang trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, Dự án đầu tư, tập trung nhiều ở các tỉnh miền Trung và Tây nguyên. Gần đây, vào đầu năm 2013, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Hiệp hội Đồng quốc tế khu vực Đông Nam Á đã nghiên cứu và đưa ra tài liệu tham khảo “Sổ tay kỹ thuật về đấu nối nhà máy điện gió vào Hệ thống điện Việt Nam” trong đó đưa ra các thông số kỹ thuật cơ bản làm cơ sở để đánh giá, thiết kế và đấu nối các nhà máy điện gió (mức độ thâm nhập điện gió <5% công suất hệ thống).
HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc 2. Tổng quan về gió và năng lượng từ gió Bức xạ mặt trời chiếu xuống bề mặt trái đất làm cho bầu khí quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Vì thế có sự khác nhau về nhiệt độ do vậy khác nhau về áp suất, dẫn đến không khí di động tạo thành gió.
Động năng của khối khí khối lượng m, vận tốc v: (Joule) (2.1) Thể tích khối lượng không khí V chuyển động qua mặt phẳng A trong một đơn vị thời gian là: (m3) (2.2) Khối lượng không khí m phụ thuộc vào mật độ không khí ρ: (kg) (2.3) Do đó, công suất P thu được do khối lượng không khí m, chuyển động với vận tốc v qua tiết diện A của cánh quạt rotor là: (Joule) (2.4) Sự khác biệt của vận tốc gió trước và sau cánh quạt (hình 2.3) được thể hiện qua biểu thức: (2.5) Do đó công suất: (2.3: Quá trình chuyển hoá năng lượng khi đi qua cánh quạt tuabin gió. HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc Khi tuabin điện gió có diện tích cánh quạt cố định A, công suất thu được không bị thất thoát là P, mật độ ρ của không khí không thây đổi, áp suất phái trước và phái sau tuabin không khác biệt thì tuabin điện gió chỉ có thể thu được từ cánh quạt với hệ số công suất Cp (power coe fficient) tối đa là: Cpmax=16/27=0,59259. Cơ năng thu được tối đa là 59,259% được gọi là hệ số công suất Betz hay hệ số Bezt.
Do đó, cơ năng lý tưởng Pideal được tính như sau: (W) (2.7) Vậy công suất điện thu được Pel: (W) (2.8) Trong đó: Pel: Công suất điện (W) Ŋ: Hiệu suất công suất tuabin. Cp: Hệ số Bezt. v: Vận tốc (m/s) ρ: Mật độ không khí (ρ=1,225kg/m3) A: Diện tích quét của cánh quạt tuabin. Trên thực tế, hiệu suất của tuabin Cp thường không đạt lý tưởng và trị số khoảng 20% đến 30%, cao nhất khoảng 50%.
Cấu tạo và phân loại tuabin điện gió 2. Cấu tạo Tuabin gió Hình 2.4: Mô hình cấu tạo của tuabin gió trục đứng. HVTH: Nguyễn Trọng Huân Trang 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Hữu Phúc - Cánh (Blade): Cánh rô to là các thành phần chính của turbine dùng để bắt năng lượng gió và chuyển đổi năng lượng gió này thành năng lượng cơ làm quay trục turbine.
Việc thay đổi góc pitch của cánh có thể làm tối ưu năng lượng thu được từ gió. - Hub: Hub là điểm tâm nơi các cánh gắn vào và gắn liền với trục tốc độ thấp. - Hộp số (Gear box): Hộp số là hộp chuyển đổi vận tốc quay từ trục tốc độ thấp sang trục tốc độ cao. - Phanh (Brake): Phanh có cơ cấu giống phanh xe hơi, dùng để hãm và dừng hẳn tất cả các thành phần của turbine trong quá trình công nhân sửa chữa, duy tu.
Ở các turbine cỡ lớn thường có đến hai hệ thống phanh độc lập. - Máy phát (Generator): Máy phát được nối vào trục tốc độ cao, là bộ phận chính chuyển đổi năng lượng cơ từ trục tốc độ cao thành năng lượng điện ở ngõ ra, thường dung máy phát không đồng bộ (mô hình DFIG) và máy phát không đồng bộ. - Máy đo tốc độ và hướng gió (Anemometer and Wind vane): Hai thiết bị này sử dụng để xác định vận tốc gió và chiều gió. - Bộ xoay hướng gió (Yaw drive): Bộ xoay hướng gió có nhiệm vụ xoay cánh luôn luôn hướng vuông góc với luồng gió, đối với loại turbine trục đứng thì bộ phận này là không cần thiết.