lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu 3 tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU ,NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NỢ XẤU,NỢ QUÁ HẠN TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC III –TNHH MỘT THÀNH VIÊN CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU,NỢ QUÁ HẠN TẠI CÔNG TY XĂNG DẦU KV III- TNHH MỘT THÀNH VIÊN 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU , NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY 1.Tổng quan về vấn đề nợ xấu ,nợ quá hạn 1.1 Khái niệm nợ xấu,nợ quá hạn Một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu,nợ quá hạn khi xuất hiện các dấu hiệu nhƣ : khoản nợ bị quá hạn thanh toán ,khoản nợ khách hàng không có khả năng thanh toán [3,tr 14] .Bản chất của nợ xấu,nợ quá hạn là 1 khoản tiền mua hàng hóa dịch vụ…mà đơn vị bán hàng hóa dịch vụ đó không thể thu hồi hoặc chậm thu hồi các khoản tiền đó.Đối với các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa dịch vụ,nợ xấu nợ quá hạn tức là các khoản tiền mua hàng của khách hàng mà khách hàng không có khả năng trả đúng hạn theo nhƣ hợp đồng đã ký kết giữa 2 bên hoặc không có khả năng thanh toán do phá sản , khó khăn về tài chính…Nhìn chung đa phần các công ty kinh doanh hàng hóa dịch vụ luôn phải ƣớc tính những khoản nợ xấu, nợ quá hạn trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào các số liệu ở kỳ trƣớc hoặc ƣớc tính theo biến động của thị trƣờng.2 Nguyên nhân gây ra nợ xấu a)Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ khách hàng: -Đối với khách hàng cá nhân: Do nguồn tiền thanh toán của họ chủ yếu dựa vào thu nhập vì vậy khi gặp biến cố thì thu nhập của họ không đảm bảo để thanh toán nợ. Hơn nữa do doanh nghiệp chỉ dựa chủ yếu trên thông tin mà khách hàng khai để tính toán nên để mua đƣợc khách hàng có thể cung cấp thông tin không đúng về khả năng tài chính của mình [7,tr 21]. Việc khách hàng gặp phải những đột biến trong cuộc sống và trong công việc cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro. Ví dụ nhƣ họ phải rủi ro cần những khoản tiền lớn để giải quyết đền bù hoặc phải sử dụng tiền lo chữa bệnh,chăm sóc cho 5 ngƣời thân.
Nhƣ vậy các nguyên nhân gây nên nợ xấu từ phía khách hàng là cá nhân có bản chất là làm thay đổi thu nhập đang ổn định của họ. Từ đó ảnh hƣởng đến cam kết thanh toán tiền cho đơn vị bán hàng -Đối với khách hàng là doanh nghiệp nguyên nhân gây ra nợ xấu là những nguyên nhân làm cho họ không đảm bảo thanh toán cho đơn vị bán hàng: + Thị trƣờng đầu vào, nguyên vật liệu…, đầu ra của sản phẩm có biến động: Giá đầu vào tăng, thời gian cung cấp chậm trong khi đó giá cả đầu ra giảm do xuất hiện các sản phẩm thay thế, đối thủ cạnh tranh…. Hoặc doanh nghiệp chỉ thực hiện cung cấp một số đoạn thị trƣờng nhất định, chính sách bán hàng không phù hợp. + Tài sản cố định hao mòn ở mức cao hay thời gian khấu hao không còn làm ảnh hƣởng giá thành sản phẩm và chất lƣợng.
+ Tài chính của nhiều doanh nghiệp không rõ ràng minh bạch gây khó khăn trong việc thẩm định, đánh giá doanh nghiệp -Khách hàng cố tình chiếm dụng vốn Khách hàng mua hàng luôn trong tình trạng thiếu, khát vốn và cần nguồn vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Trong mọi trƣờng hợp có thể, khách hàng đều muốn tận dụng khai thác nguồn vốn, ngay cả đó là vốn của nhà cung cấp vừa mới cấp hàng cho họ. Việc chậm thanh toán cho bạn hàng cũng là một trong những cơ hội để họ sử dụng đồng vốn vào những công việc cấp thiết hơn,hoặc khách hàng muốn chiếm dụng vốn, không sẵn sàng thanh toán nợ là bởi các lý do sau: + Chiếm dụng vốn để phục vụ cho những nhu cầu cấp thiết hơn trong doanh nghiệp: tận dụng vốn của bạn hàng là việc thƣờng thấy của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta. Khi khoản nợ đã đến hạn nhƣng nhận thấy 6 quá hạn chƣa lâu, các doanh nghiệp sẵn sàng gọi điện hoặc gửi văn bản xin bạn hàng gia hạn thời gian thanh toán.
Họ đƣa ra rất nhiều lý do khác nhau để thuyết phục bạn hàng đồng ý cho gia hạn. Trong số đó, có không ít doanh nghiệp thấy đối tác của mình dễ tính, họ xin gia hạn thanh toán nhiều lần. Với tâm lý chung của các nhà cung cấp, do lo sợ mất uy tín, không làm vừa lòng bạn hàng mới, đối tác mới nên họ vẫn đồng ý cho ngƣời mua lùi lại thời gian thanh toán. Chính lẽ đó, các khách nợ cố tình kéo dài, chƣa muốn thanh toán cho chủ nợ nhằm dùng đồng vốn đó để chi tiêu, phục vụ việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mặc dù lý do không thanh toán không phải là khó khăn về tài chính.
+ Chiếm dụng vốn do nguồn thanh toán chƣa sẵn có: Đây là một trong những lý do và cũng là tình trạng phổ biến của các doanh nghiệp khách nợ hiện nay khi bị đòi nợ. Trong lúc này, đồng vốn của doanh nghiệp dƣ thừa hoặc luôn sẵn có là điều ít xảy ra. Doanh đều phải lấy nguồn này để thanh toán cho nguồn kia, vốn dƣ thừa nhàn dỗi không có, đồng vốn lúc nào cũng trong tình trạng xoay vòng không ngừng nghỉ. Vốn thiếu, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách xoay sở để có đồng vốn, phải đi vay ngân hàng, tổ chức hoặc các bạn hàng đối tác.
Hiện nay, một doanh nghiệp để có sẵn nguồn thanh toán là rất khó, nếu không họ phải là những doanh nghiệp thực sự lớn mạnh, có tiềm lực về tài chính. Vì vậy, các chủ nợ hy vọng hoặc đợi chờ các khách nợ có nguồn để thanh toán cho mình thì không biết phải chờ đến khi nào. Chủ nợ phải là những doanh nghiệp sáng suốt, bất kỳ lúc nào cũng phải biết tạo ra và nắm lấy thời cơ để thu hồn vốn cho bản thân mình. + Chiếm dụng vốn là do hồ sơ thiếu chặt chẽ, nhiều kẽ hở pháp lý: Bên cạnh lý do không thanh toán là do chƣa có nguồn hoặc muốn chiếm dụng vốn một lý do rất phổ biến khiến các khách nợ không muốn thanh toán là yếu tố hồ sơ.
Khi khách nợ phát hiện trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng hồ sơ còn thiếu và yếu về pháp lý , họ sẵn sàng lợi dụng kẽ hở này để kéo dài, 7 không muốn thanh toán cho bên bán. Chẳng hạn nhƣ: theo quy định trong hợp đồng, biên bản xác nhận nghiệm thu khối lƣợng hàng hóa là căn cứ, cơ sở để hai bên thanh toán tiền hàng. Tuy nhiên họ phát hiện hồ sơ hiện tại chƣa có tài liệu này, họ sẽ vin vào đó để cố tình không thanh toán - Nguyên nhân từ phía đơn vị bán hàng Ngoài những yếu tố về khách hàng thì còn có một số nguyên nhân về phía đơn vị bán hàng nhƣ chính sách bán hàng còn thiếu chặt chẽ hoặc không linh hoạt so với tình hình thực tế ,hoặc do các cá nhân đơn vị chƣa thực sự chú trọng đến công tác an toàn tài chính .Cụ thể nhƣ : + Chính sách bán hàng không linh hoạt, thể hiện ở các mục tiêu tăng trƣởng bán hàng , chính sách về giá, chính sách về an toàn tài chính… + Chính sách theo dõi thông tin khách hàng và xếp loại khách hàng không đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả. Đơn vị bán hàng thiếu những quy chuẩn để đánh giá xếp loại khách hàng vì vậy thông tin không kịp thời, thiếu hệ thống phân tích, đánh giá khách hàng một cách chính xác đầy đủ, khách quan.
+ Đơn vị bán hàng không coi trọng sự an toàn tài chính của công ty trong quá trình bán hàng thể hiện ở: ngƣời đƣợc phân công mảng kinh doanh đẩy mạnh bán hàng để lấy doanh số , tăng trƣởng nóng không đề cao sự an toàn tài chính của công ty. Vì vậy có thể dẫn đến việc khách hàng làm ăn thua lỗ , chiếm dụng vốn của doanh nghiệp bán hàng b) Nguyên nhân khách quan Các nguyên nhân khách quan dẫn đến nợ xấu là các nguyên nhân bất khả kháng nằm ngoài dự kiến và khả năng ứng phó của doanh nghiệp .Cụ thể gồm: + Thiên tai, dịch bệnh. là những nguyên nhân bất khả kháng gây nên rất nhiều những chi phí ngoài dự kiến của doanh nghiệp, ảnh hƣởng đến 8 việc kinh doanh cũng lợi nhuận của doanh nghiệp vì thế làm gia tăng các khoản nợ xấu cho đơn vị bán hàng + Sự thay đổi chính sách và việc thiếu môi trƣờng pháp lý nhƣ việc nhà nƣớc thay đổi địa giới hành chính các địa phƣơng, việc hạn chế hoặc cấm sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó sẽ ảnh hƣởng đến kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hƣởng đến việc thu hồi nợ trong công tác bán hàng. + Hoàn cảnh kinh tế xã hội trong nƣớc là một trong những nguyên nhân gây nên nợ xấu.
Bởi vì hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn với môi trƣờng, hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong nƣớc. Trong mỗi giai đoạn cụ thể nó lại có những tác động trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp cũng nhƣ của đơn vị bán hàng một cách khác nhau. Khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất đình đốn làm cho thu nhập bình quân đầu ngƣời giảm ảnh hƣởng tới năng lực kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Nợ xấu của các ngành Ngân hàng,kinh doanh theo đó mà tăng lên.
Khi lạm phát, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hƣởng tác động xấu đến khả năng thu hồi nợ. + Cơ chế quản lý và điều hành kinh doanh của các công ty kinh doanh xăng dầu thành viên trực thuộc đang từng bƣớc chuyển đổi hoặc đổi mới bƣớc đầu hình thành theo nguyên tắc của cơ chế thị trƣờng. Nghiệp vụ hoạt động kinh doanh còn đang trong quá trình xây dựng, thích ứng dần với môi trƣờng kinh doanh quốc tế. + Trong xu thế toàn cầu hóa, việc các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa dịch vụ mở rộng mạng lƣới bán lẻ sang các nƣớc khác là điều tất yếu nhƣng chính điều này cũng đem lại những rủi ro cần phải lƣu ý đến, nếu ở nƣớc đó có biến động về chính trị, suy thoái kinh tế, có sự biến động trong môi trƣờng kinh doanh, phƣơng thức bán hàng.