MỞ ĐẦU Kỹ thuật say lạnh có ưu điểm là có thé say nông sản, thực phẩm mà vẫn giữ được nguyên màu sắc, mùi vị, thành phân dinh dưỡng thất thoát không đáng kể. Việt Nam là một nước có khí hậu nóng âm, vi thế kỹ thuật say lạnh là công nghệ đặc biệt phù hợp với các loại nông sản, thực phẩm, đảm bảo được chất lượng cũng như hàm lượng dinh dưỡng, mau sắc, mùi vị cho sản phẩm. Thế mạnh của kỹ thuật say lạnh là quá trình sấy được thực hiện ở nhiệt độ thấp, phù hợp với các sản phẩm có tính nhạy cảm với nhiệt độ. Sự hỗ trợ của hệ thống bơm nhiệt và năng lượng mặt trời sẽ làm giảm chỉ phí năng lượng của hệ thống, tận dụng được nguồn năng lượng sạch là năng lượng mặt trời.
Củ dén là một sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cũng như cảm quan rất cao. Vì ham lượng betalain, đặc biệt là betacyanin ở trong cu dén rất lớn nên loại nông sản này khá nhạy cảm với các quá trình sấy sử dụng nhiệt độ cao. Do đó, củ dên là đối tượng phù hợp dé đánh giá quá trình say của hệ thống sấy lạnh. Đồng thời, dâu tây và mực cũng được tiễn hành sây thực nghiệm để đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống.
Trong phạm vi dé tai này, kỹ thuật sấy lạnh với sự hỗ trợ của bơm nhiệt sẽ được áp dụng để sây củ dén, dâu tây và mực. Thiết bị sây sẽ được tính toán thiết kế và chế tạo. Quá trình say củ dén sẽ được đánh giá để thu thập dữ liệu về đường cong sấy, động học quá trình say, chất lượng của sản phẩm sau say và đánh giá hệ thông sấy về mặt năng lượng. Toàn bộ hệ thống say va quá trình say sẽ được mô hình hóa dé cung cấp công cụ dự đoán chính xác khi áp dụng mô hình hệ thống sấy này vào quy mô công nghiệp.
TONG QUAN VE NGHIÊN CỨU 1. Tình hình sản xuất và chế biến rau quả trong nước Theo báo cáo của bộ Công Thương vẻ tình hình sản xuất 6 tháng đầu năm 2015, cả nước hiện có khoảng 845 nghìn ha rau các loại, cho sản lượng hàng năm khoảng 14,5 triệu tan. Trong đó, Đồng bằng Sông Hồng và Sông Cửu Long là hai vùng sản xuất rau lớn nhất nước. Đối với cây ăn quả, hiện cả nước có khoảng 700 nghìn ha cây ăn quả, cho sản lượng hàng năm khoảng 7 triệu tân quả các loại.
Kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 5 năm qua tăng trưởng ở mức cao, bình quân 26.5% mỗi nam, từ 439 triệu USD trong năm 2009 lên gần 1,1 ty USD vào năm 2013. Trong 3 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu rau quả đạt kim ngạch 368 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2014. Rau quả Việt Nam đã được xuất đi trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. 10 thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Ky, Nga, Đài Loan, Han Quốc, Indonexia, Ha Lan, Thái Lan va Singapore.
Loi thé của của Việt Nam là sản lượng rau quả lớn, tuy nhiên khó khăn cơ bản của ngành sản xuất, chế biến rau quả hiện nay chủ yếu vẫn là do chất lượng chưa được cải thiện, phương thức sản xuất kinh doanh lạc hậu, thiếu chủ động. Trong khi đó, yêu cầu về chất lượng hàng hóa của các nước nhập khẩu đòi hỏi ngày cảng cao hơn, cùng với đó là sự cạnh tranh của các quốc gia xuất khẩu rau quả khác ngày càng gay gắt trên cả phương diện chất lượng hàng hóa, giá cả hàng hóa và phương thức kinh doanh. Nhăm đáp ứng yêu câu bức thiệt về việc nang cao chat lượng sản pham, cân phải áp dụng công nghệ tiên tiên vào sản xuât, chê biên đê tạo ra các sản phâm với chât lượng dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khâu. Tình hình sử dụng bơm nhiệt trong công nghệ sấy Bơm nhiệt đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành có yêu cầu sử dụng nguồn nhiệt thấp.
Công nghệ say lạnh sử dụng bơm nhiệt đã được nghiên cứu rộng rãi trong nghành sản xuất gỗ để đảm bảo chất lượng gỗ sấy. Máy sấy dùng bơm nhiệt đã được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp thực phẩm. Nghiên cứu thực nghiệm về quá trình say bơm nhiệt sử dụng dé sấy trái cây tại Thái Lan đã cho thay mức độ tiêu thụ năng lượng khoảng 3,33 kWh/kg am [1]. Nghiên cứu về say nam rơm ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thay mức độ tiêu thụ năng lượng chi 1,08 kWh/kg âm [2].
Cunney va cộng sự đã nghiên cứu và công bồ sử dụng bơm nhiệt có thé giảm chỉ phí năng lượng trong quá trình say xuống 30 — 50% [3]. Ở trong nước, các nghiên cứu về quá trình sấy sử dụng bơm nhiệt cũng đã và đang được tiễn hành. Tác giả Hoàng Ngọc Đồng cùng các cộng sự đã nghiên cứu về thực nghiệm quá trình say gỗ, đồng thời xây dựng chương trình tính toán quá trình say lạnh gố [5].Viện cơ điện Nông nghiệp va Công nghệ Sau thu hoạch Hà Nội cũng đã công bố nghiên cứu về quy trình và thiết bị sấy rau quả bằng bơm nhiệt với mức tiêu thụ năng lượng tương đương 0,341 kWh/kg am. Tổng quan về quá trình say 1.
Khái niệm về quá trình say Quá trình sây là quá trình làm khô các vật thể, các vật liệu, các sản phẩm băng phương pháp bay hơi nước. Như vậy, quá trình sấy khô một vật thể diễn biến như sau: Vật thể được gia nhiệt để đưa nhiệt độ lên đến nhiệt độ bão hòa ứng với phân áp suất của hơi nước trên bề mặt vật thé. Vật thé được cấp nhiệt dé làm bay hơi âm. Vận chuyén hơi âm đã thoát ra khỏi vật thể vào môi trường.
Tóm lại, trong quá trình sây xảy ra các quá trình trao đôi nhiệt và trao đôi chât cụ thể là quá trình truyền nhiệt từ chất tải nhiệt cho vật sấy, quá trình truyền âm từ trong vật sây ra ngoài bê mặt sây, quá trình truyền âm từ bê mặt vật sây ra ngoài môi trường. Các quá trình truyên nhiệt truyền chât trên xảy ra đông thời trên vật sây, chúng có qua lại lân nhau. Đặc điểm quá trình sấy Đặc điểm của quá trình sấy đối với vật thé có độ âm tương đối cao, nhiệt độ say và tốc độ chuyển động của không khí không quá lớn xảy ra theo ba giai đoạn đó là giai đoạn làm nóng vật, giai đoạn sây tốc độ không đổi, giai đoạn tốc độ sây giảm dần. Đối với các trường hợp sấy với điều kiện khác thi quá trình say cũng xảy ra ba giai đoạn nhưng các giai đoan có thể đan xen khó phân biệt hơn.
e Giai đoạn làm nóng vật liệu sây Giai đoạn nay bắt đầu từ khi đưa vật liệu vào buồng sấy tiếp xúc với không khí nóng cho tới khi nhiệt độ vật liệu đạt được bằng nhiệt độ kế ước. Trong quá trình sấy này toàn bộ vật được gia nhiệt. Am long trong vat được gia nhiệt cho dén khi dat được nhiệt độ sôi ứng với phân áp suất hoi nước trong môi trường không khí trong buông sấy. Do được làm nóng nên độ am của vật có giảm chút ít do bay hơi âm còn nhiệt độ của vật thì tăng dần cho đến khi bằng nhiệt độ kế ước.
Tuy vậy, sự tăng nhiệt độ trong quá trình xảy ra không đều ở phần ngoài va phan trong vật. Vùng trong vật đạt đến nhiệt độ kế ước chậm hơn. Đối với vật dễ sây thì giai đoạn làm nóng vật xảy ra nhanh. e Giai đoạn sấy đăng tốc Kết thúc giai đoạn gia nhiệt, nhiệt độ vật bang nhiệt độ kế ước.
Tiếp tục cung cấp nhiệt, âm trong vật sẽ hóa hơi còn nhiệt độ của vật giữ không đối nên nhiệt cung cấp chỉ để làm hóa hơi nước. Âm sẽ hóa hơi ở lớp vật liệu sát bề mặt vật, âm lỏng ở bên trong vật sẽ truyền ra ngoài bề mặt vật để hóa hơi. Do nhiệt độ không khí nóng không đôi, nhiệt độ vật cũng không đổi nên chênh lệch nhiệt độ giữa vật và môi trường cũng không đổi. Điều này làm cho tốc độ giảm của độ chứa 4m vật theo thời gian cũng không đổi, có nghĩa là tốc độ sấy không đổi.
Trong giai đoạn này biến thiên của độ chứa 4m theo thời gian là tuyến tính. Am được thoát ra trong giai đoạn này là âm tự do. Khi độ âm của vật đạt đến trị số tới hạn thì giai đoạn sấy tốc độ không đổi chấm dứt. Đồng thời cũng là chấm dứt giai đoạn thoát âm tự do chuyền sang giai đoạn sấy tốc độ giảm.
e Giai đoạn sấy giảm tốc Kết thúc giai đoạn sây tốc độ không đôi âm tự do đã bay hơi hết, còn lại trong vật là âm liên kết. Năng lượng dé bay hơi 4m liên kết lớn hơn ẩm tự do và càng tăng lên khi độ 4m của vật càng nhỏ. Do vậy tốc độ bay hơi 4m trong giai đoạn này nhỏ hon giai đoạn say tốc độ không đổi có nghĩa là tốc độ sấy trong giai đoạn này nhỏ hơn và càng giảm đi theo thời gian sấy. Quá trình sấy càng tiếp diễn, độ âm của vật càng giảm, tốc độ say cũng giảm cho đến khi độ âm của vật giảm đến bằng độ âm cân bằng với điều kiện môi trường không khí 4m trong buông sấy thi quá trình thoát 4m của vật ngưng lại, có nghĩa tốc độ say băng không.
Sự khuếch tán của nước trong nguyên liệu e Sự khuếch tan của nước trong nguyên liệu Dưới sự ảnh hưởng của các nhân tố lý học như: hấp thụ nhiệt, khuếch tán, bay hơi. lam nước trong vật liệu tách ra ngoài, đây là một quá trình rất phức tạp gọi là làm khô. Nếu quá trình cung cấp nhiệt ngừng lại mà vẫn muốn duy trì quá trình sấy thì quá trình làm khô vật liệu phải được cung cấp một lượng nhiệt nhất định dé vật liệu có nhiệt độ cần thiết. Khi nhiệt lượng cung cấp đủ cho nguyên liệu thì nước sẽ thoát ra khỏi nguyên liệu băng hai quá trình: khuếch tán ngoại và khuếch tán nội.
Nhiệt cung cấp cho vật liệu Q được đưa tới bằng ba phương thức: bức xạ, truyền và đối lưu. Sự cân bằng nhiệt khi làm khô được biểu thi: Q=Q¡+Q;+Q; Trong đó: Q - là nhiệt lượng cung cấp cho nguyên liệu Q1 — là nhiệt lượng làm cho các phan tử hơi nước tách ra khỏi nguyên liệu Q2 — là nhiệt lượng cung cấp để cắt đứt mối lên kết mỗi giữa nước và protein trong nguyên liêu. Q3 — là nhiệt lượng dé làm khô các tổ chức tế bào.