phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được trình bày trong 4 chương. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển doanh nghiệp dệt may Chƣơng 3.Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007- 2018 Chƣơng 4. Giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Phát triển doanh nghiệp luôn được các chính phủ quan tâm, bởi doanh nghiệp là lực lượng tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân, đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế.
Việc phát triển doanh nghiệp được tiếp cận từ nhiều cấp độ khác nhau, từ cấp vi mô hay cấp doanh nghiệp, cấp ngành, và cấp vĩ mô. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển doanh nghiệp còn tiếp cận ở cấp toàn cầu, với các doanh nghiệp đa quốc gia chi phối các chuỗi sản xuất đặt địa điểm ở nhiều nền kinh tế khác nhau. Bàn về sự phát triển của doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể độc lập Lý thuyết doanh nghiệp nghiên cứu, giải thích về sự ra đời, phát triển hay rút khỏi ngành của doanh nghiệp, và chỉ ra những yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp. Trên cơ sở lý thuyết cơ bản về doanh nghiệp, đến nay đã hình thành nhiều dòng lý thuyết khác nhau giải thích cho sự phát triển của doanh nghiệp, bao gồm dòng lý thuyết dựa trên chi phí giao dịch, dòng lý thuyết dựa trên lý thuyết về tài sản đặc thù ., và gần đây nhất, giải thích cho sự phát triển doanh nghiệp là dòng lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-based Theory of the Firm).
Mỗi dòng lý thuyết này sẽ bổ sung cho lý thuyết cơ bản về doanh nghiệp. Luận án sẽ sử dụng lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực kết hợp với lý thuyết cơ bản về doanh nghiệp để giải quyết vấn đề. Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực tập trung vào vai trò của các nguồn lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp và hệ quả của phát triển doanh nghiệp – sự hình thành ngành kinh tế. Lý thuyết được phát triển bởi Barney, J., (1991), sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhóm nguồn lực: (a) nguồn lực vật chất (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất đai); (b) nguồn vốn con người; và (c) nguồn vốn tổ chức.
Giải quyết thách thức duy trì sự tồn tại và gia tăng “lợi nhuận siêu ngạch” để phát triển, doanh nghiệp phải xử lý vấn đề huy động và sử dụng hiệu quả ba nhóm nguồn lực nói trên [64] 8 luan an Trên nền tảng lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực, đã có nhiều nghiên cứu chứng thực đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và nhóm doanh nghiệp phân theo hình thức sở hữu, ngành kinh tế hay phân theo khu vực địa lý nói riêng. (2011), lập luận rằng lợi thế tiếp cận, huy động và sử dụng các nguồn lực để hình thành nguồn lực đặc thù của doanh nghiệp là một yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấy, không phải nguồn lực nào cũng có tính chiến lược – duy trì lợi nhuận siêu ngạch – đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Trong các nhóm nguồn lực trên, vốn vật chất, máy móc thiết bị công nghệ là nguồn lực có tính chiến lược, và việc khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực này là điều kiện để doanh nghiệp phát triển [64], [65], [66].
Trong dài hạn, đổi mới và nâng cấp máy móc thiết bị công nghệ (năng lực công nghệ), nâng cấp nguồn vốn con người (năng lực thực hiện R&D, năng lực quản trị.) là giải pháp hữu hiệu, giúp doanh nghiệp giữ vững nguồn lực chiến lược, duy trì lợi thế cạnh tranh. Sanjaya Lall (2000) chỉ ra sự khác biệt về năng lực duy trì nguồn lực chiến lược, để nắm bắt cơ hội phát triển của doanh nghiệp thuộc hai nhóm (i) các nền kinh tế đang phát triển và (ii) các nền kinh tế phát triển. Ở nền kinh tế đang phát triển, xây dựng nguồn lực chiến lược có thể phản tác dụng khi việc đổi mới máy móc thiết bị (thường là nhập khẩu) có thể dẫn tới tình trạng mất cân bằng giữa các nguồn lực trong doanh nghiệp – tức là năng lực cần thiết của lao động hiện tại để làm chủ trình độ công nghệ mới thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu về trình độ cần có để làm chủ công nghệ mới đó [103]. Nói cách khác, doanh nghiệp chỉ có cải thiện trình độ phát triển khi và chỉ khi cùng lúc nhập khẩu máy móc hiện đại và “nhập khẩu” cả những lao động có đủ trình độ để vận hành các máy móc thiệt bị mới – huy động và sử dụng đồng bộ hai nguồn 9 luan an lực.
Với đa số các doanh nghiệp của các nền kinh tế đang phát triển, tính khả thi của yêu cầu trên là không cao. Một vấn đề phát triển đặt ra là khi công nghệ thay đổi, năng suất lao động sẽ không tăng ngay. Thời kỳ giảm năng suất của doanh nghiệp sẽ kéo dài, khi lao động trong doanh nghiệp mất nhiều thời gian hơn so với mức cần thiết để làm chủ công nghệ, máy móc thiết bị mới. Đường cong chi phí học thông qua hành sẽ kéo dài hơn trước khi đạt được mức thấp nhất.
Không những thế Sanjaya Lall (2000) cho rằng, các doanh nghiệp đó sẽ gặp rủi ro phát triển, là sự lạc hậu trong tiến trình đổi mới công nghệ của thế giới. Nghiên cứu của Sanghoon Ahn (2003) ủng hộ lý thuyết của Barney, J. Cụ thể, các doanh nghiệp chế biến chế tạo Mỹ trong nghiên cứu đã đạt được sự cải thiện về năng suất lao động cũng như năng suất tổng hợp các nhân tố (TFP) – các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh – trên cơ sở nâng cấp chất lượng nguồn vốn hai nguồn lực là nguồn vật chất và nguồn vốn con người. Cũng như Sanjaya Lall (2000), Sanghoon Ahn (2003) đã chỉ ra, hiệu ứng phụ của chiến lược tìm kiếm nguồn lực chiến lược là hiện tượng giảm năng suất của doanh nghiệp trong ngắn hạn - thời kỳ đầu của quá trình nâng cấp chất lượng nguồn vốn vật chất.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chất lượng nguồn vốn con người (hiện tại) trong doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến tần suất nâng cấp chất lượng nguồn vốn vật chất. Các doanh nghiệp duy trì, phát triển được đội ngũ lao động có kỹ năng là những doanh nghiệp có xu hướng thường xuyên nâng cấp nguồn vốn vật chất hơn so với các doanh nghiệp khác. Đối với các công ty đại chúng, thường xuyên nâng cấp nguồn lực chiến lược khiến lợi nhuận có xu hướng giảm trong ngắn hạn (năng suất lao động giảm). Nhưng đổi lại, giá trị của doanh nghiệp có xu hướng được các nhà đầu tư định giá cao hơn.
Gnesha Wiganaraja (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ đối với sự phát triển của doanh nghiệp dệt may Mauritius trong những năm đầu thập kỷ 80. Bằng các phương pháp đo lường năng lực công nghệ của doanh nghiệp, Gnesha Wiganaraja (2001) đã nghiên cứu quá trình thay đổi/đổi mới nguồn vốn vật chất và mức độ ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, phản ánh qua các chỉ tiêu như kết quả kinh doanh, kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp [73]. 10 luan an Các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng góp phần thay đổi chất lượng nguồn vốn vật chất của doanh nghiệp trong nước, mặc dù tính chất của tác động (tiêu cực hay tích cực) và cường độ tác động còn nhiều tranh cãi giữa các nghiên cứu., (2011) cho tác động tích cực của FDI đối với sự cải thiện vốn vật chất của các doanh nghiệp trong nước tiếp nhận đầu tư, với điều kiện là bản thân năng lực của doanh nghiệp trong nước đã ở một trình độ nhất định, phù hợp để tiếp nhận các công nghệ đó. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả gợi ý việc khuyến khích doanh nghiệp tự đầu tư cũng như khuyến khích chính phủ tạo ra các cơ hội để doanh nghiệp đầu tư nâng cấp năng lực đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển là cần thiết [72].
Gnesha Wiganaraja (2001) cho thấy, các nguồn lực thứ hai và thứ ba trong Barney, J., (1991) như chất lượng của lao động có kỹ năng, chi phí đào tạo lao động, quy mô doanh nghiệp, và sự hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài là những yếu tố ảnh hưởng tích cực đến kết quả nâng cấp nguồn lực thứ nhất (nâng cấp nguồn vốn vật chất) của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu xác nhận rằng, đầu tư vào vốn con người và tìm kiếm thông tin (được thuận lợi hơn khi doanh nghiệp có quy mô lớn hơn), sẽ cải thiện năng lực công nghệ [102]. Nghiên cứu cũng phát hiện thấy chất lượng nguồn vốn vật chất của doanh nghiệp (đo lường thông qua chỉ số công nghệ) và quy mô đầu tư trực tiếp nước ngoài của ngành dệt may có mối quan hệ tương quan với kết quả xuất khẩu và các quan hệ đó có ý nghĩa thống kê cao. Nghiên cứu cho thấy ý nghĩa việc thiết lập chỉ số công nghệ trong việc phân tích, đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp (qua các chỉ tiêu doanh thu xuất khẩu, lợi nhuận xuất khẩu) trong mối quan hệ với sự cải thiện chất lượng nguồn vốn vật chất.
Glaister, Gaye Karacay, Mehmet Demirbag, và Ekrem Tatoglu (2018) đã phân tích vai trò của nhân lực quản trị dựa trên việc quan sát 198 doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, những nhà quản trị giỏi, thông qua thực tiễn phát triển các mạng nhân lực và vốn xã hội, là kênh truyền tải tác động quan trọng từ quản trị nguồn nhân lực đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, vai trò truyền tải của các chiến lược quản trị nguồn nhân lực hay chiến lược kinh doanh cũng có tác động, nhưng không phải là các kênh tác động quan trọng đối với mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [62]. 11 luan an Vishal Gupta, Sandra C.
Mortal, và Tina Yang, (2018) đánh giá vai trò nhà quản trị đối với sự phát triển của các doanh nghiệp đại chúng (giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán), dựa trên số liệu về doanh nghiệp của 05 quốc gia phát triển (xếp hạng của Fobes 2000). Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán có mối quan hệ với vai trò định hướng của nhà doanh nghiệp.