Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế: "Doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư" do nghiên cứu sinh Trần Thị Vân Anh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9.05), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phí Vĩnh Tường và TS. Dương Đình Giám, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngành dệt may đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam thông qua việc gia tăng dự trữ ngoại tệ (kim ngạch xuất khẩu tăng gần 7 lần, từ 5,85 tỷ USD năm 2006 lên 36,14 tỷ USD năm 2018) và giải quyết việc làm (chiếm hơn 20% tổng số lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo và gần 5% tổng lực lượng lao động cả nước; năm 2017 tạo ra khoảng 2,5 triệu việc làm với 80% là lao động nữ). Ngành dệt may còn phát huy vai trò vùng đệm giảm sốc cho nền kinh tế trong các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thể hiện qua việc duy trì kim ngạch xuất khẩu trên 9 tỷ USD trong giai đoạn 2008–2009 (9,12 tỷ USD năm 2008 và 9,07 tỷ USD năm 2009).

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại như: huy động vốn mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), cải thiện và ổn định chất lượng lao động, nâng cấp vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với sự xuất hiện của công nghệ thông tin và truyền thông, internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), robot tự động hóa (sewbots), in 3D, vật liệu mới đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, dồn nén chuỗi giá trị về cả không gian và thời gian. Điều này dẫn đến nguy cơ dịch chuyển sản xuất về các nước phát triển hoặc các thị trường lớn, tạo sức ép chuyển đổi việc làm và đặt ra yêu cầu cấp thiết về đào tạo nhân lực kỹ năng cao.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận theo từng khía cạnh riêng lẻ của ngành hoặc phân tích chuỗi giá trị truyền thống, chưa có nhiều công trình đánh giá hệ thống, toàn diện thực trạng phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 dưới góc độ kết hợp lý thuyết tổ chức ngành, lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực và lý thuyết chuỗi giá trị, đặc biệt là việc định vị và đề xuất giải pháp phát triển cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh diễn ra CMCN 4.0 theo cách tiếp cận ngành và chuỗi giá trị; trên cơ sở đó đề xuất các gợi ý giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác định một số vấn đề lý luận về phát triển doanh nghiệp, tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0; rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển doanh nghiệp dệt may ở một số quốc gia (Trung Quốc, Ấn Độ).
  2. Đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007–2018 nhằm làm rõ thành tựu và chỉ ra các vấn đề phát triển; phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) đối với doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0.
  3. Đề xuất quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Cơ sở của việc thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp dệt may Việt Nam?
  2. Những tiêu chí và chỉ tiêu nào giúp đánh giá sự phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh của một cuộc cách mạng công nghiệp?
  3. Trong bối cảnh CMCN 4.0 diễn ra, các yếu tố nào có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển doanh nghiệp dệt may?
  4. Các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0 là gì?
  5. Giải pháp để phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp dệt may hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2007–2018 (có phân tích so sánh trước và sau thời điểm năm 2014 để làm rõ tác động khi CMCN 4.0 được thảo luận rộng rãi); đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2020–2025 và tầm nhìn 2030.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam, trong đó giải pháp tập trung cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước. Do giới hạn số liệu thống kê, phạm vi dữ liệu định lượng tập trung vào các doanh nghiệp có đăng ký mã ngành kinh doanh cấp hai là 13 (Dệt) và 14 (Sản xuất trang phục) theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới theo 4 nhóm tiếp cận chính:

  1. Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực (Resource-based Theory of the Firm): Kế thừa nền tảng của Barney, J. (1991) về ba nhóm nguồn lực (nguồn lực vật chất, vốn con người, vốn tổ chức). Sanjaya Lall (2000) chỉ ra sự khác biệt về năng lực công nghệ và rủi ro mất cân bằng nguồn lực ở các nước đang phát triển khi nhập khẩu máy móc hiện đại nhưng thiếu lao động đủ trình độ làm chủ công nghệ, làm kéo dài đường cong chi phí học thông qua hành. Sanghoon Ahn (2003) chứng minh việc nâng cấp vốn vật chất và con người giúp cải thiện năng suất lao động và năng suất tổng hợp các nhân tố (TFP) tại các doanh nghiệp chế tạo Mỹ. Gnesha Wiganaraja (2001) đo lường năng lực công nghệ và chứng minh mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số công nghệ, vốn con người và kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp dệt may Mauritius. Glaister và cộng sự (2018), Vishal Gupta, Sandra C. Mortal, Tina Yang (2018), Bill Gerrard, Andy Lockett (2018) nghiên cứu vai trò của nhà quản trị và cấu trúc nhóm quản lý đối với hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp. Leonidou và cộng sự (2017) khảo sát 153 doanh nghiệp nhỏ tại Síp về vai trò của chiến lược kinh doanh xanh đối với lợi thế cạnh tranh.
  2. Tính kinh tế theo quy mô cấp ngành và ngoại hiện Marshall (Marshallian Externalities): Itoh và cộng sự (1991), Porter (2000) phân tích vai trò của cụm liên kết ngành (CLKN). Shane và Cable (2002), Straub (2005), Safavian và Wimpey (2007), Bougheas và cộng sự (2006) chỉ rõ cụm liên kết và mạng sản xuất giúp giảm bất đối xứng thông tin, dỡ bỏ rào cản tài chính từ hệ thống ngân hàng thương mại. Van Dijk, M. và cộng sự (2005), Rabellotti (2005) so sánh mô hình quận công nghiệp tại Ý và cụm ngành tại Mexico trong ngành da giày. Tambunan (2005) phân tích chính sách cụm liên kết đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Indonesia.
  3. Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu (GVC): Porter (1985), Kaplinsky (1999), Humphrey, J. và Schmitz, H. (2003). Garry Gereffi và Olga Memodovic (2003) phân chia chuỗi cung ứng dệt may thành 5 công đoạn và mô hình hóa bằng đường cong nụ cười (Smile Curve), xác định giá trị gia tăng cao nhất nằm ở khâu thiết kế và tiếp thị, phân phối. Verma, S. (2000), Stacey Frederick và Gary Gereffi (2011) nhấn mạnh vai trò của nguồn vốn nhân lực và R&D trong chiến lược nâng cấp chuỗi.
  4. Vai trò hỗ trợ của Nhà nước: H. Thamhain (2005), Teece, D. J. (1986), Manseau và Seaden (2001) làm rõ vai trò của chính phủ trong việc định hình hệ thống đổi mới quốc gia, kích thích đầu tư R&D và thiết lập khung pháp lý bảo vệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Nguồn lực và quản trị doanh nghiệp: Bùi Văn Vần (2014) phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và vốn vật chất; Bùi Văn Tốt (2014) chỉ rõ rào cản quy mô vốn và công nghệ của DNVVN; Hoàng Xuân Hiệp (2013, 2017) đề xuất 7 tiêu chí đánh giá chất lượng vốn nhân lực và nghiên cứu lộ trình chuyển đổi các phương thức sản xuất FOB, OEM, ODM, OBM; Hà Văn Hội (2012) phân tích các rào cản kỹ thuật tại thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản.
  2. Mạng sản xuất và liên kết ngành: Anwar, S. và Nguyen, L. (2011), Gangnes và cộng sự (2007) phân tích tác động lan tỏa của khu vực FDI; Cù Chí Lợi (2012), Bùi Thái Quyên (2015), Nguyễn Thị Tuệ Anh và Vũ Thị Như Hoa (2016), Nguyễn Quang Thuấn (2018) nghiên cứu rào cản thể chế trong việc phát triển cụm liên kết ngành và mạng sản xuất.
  3. Chuỗi giá trị dệt may Việt Nam: Nguyễn Mạnh Hùng (2008), Đặng Thị Tuyết Nhung và Đinh Công Khải (2011), Đinh Thị Hương và Phạm Thị Thanh Hà (2013), Nguyễn Hồng Thu (2016) chỉ rõ ngành dệt may Việt Nam tập trung ở đáy chuỗi giá trị (khâu cắt may chiếm 5–7% GTGT, khâu thiết kế chiếm 3% nhưng yếu, khâu marketing và phân phối chiếm 75% nhưng lệ thuộc hoàn toàn vào đối tác ngoại).
  4. Tác động của CMCN 4.0: Trương Văn Cẩm (2016), Nguyễn Thắng (2016), Bộ Khoa học và Công nghệ (2016), UNDP và Bộ Công Thương (2019) công bố dữ liệu điều tra 153 doanh nghiệp may và 168 doanh nghiệp dệt, chỉ ra mức độ chuẩn bị công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp, đối diện nguy cơ mất việc làm ở các khâu thâm dụng lao động.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án kế thừa và kết hợp lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực, lý thuyết tổ chức ngành và lý thuyết chuỗi giá trị để giải quyết khoảng trống: Đánh giá đồng bộ các nhân tố bên trong và bên ngoài chi phối sự phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh phương thức sản xuất thay đổi dưới tác động của CMCN 4.0; làm rõ mối quan hệ mất cân đối giữa dệt và may; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng của doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của ba khối lý thuyết:

  • Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn lực (Barney, 1991): Đánh giá việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vật chất (công nghệ, máy móc), vốn con người (quản trị, kỹ năng lao động) và vốn tổ chức để tạo ra nguồn lực chiến lược.
  • Lý thuyết tổ chức ngành: Đánh giá tính kinh tế theo quy mô, tính kinh tế theo phạm vi, ngoại hiện Marshall và sự hình thành cụm liên kết ngành (CLKN).
  • Lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu (GVC): Sử dụng mô hình đường cong nụ cười của Gereffi và Memodovic (2003) để phân tích sự dịch chuyển vị thế của doanh nghiệp qua các phương thức sản xuất: Gia công cắt may (CMT) $\rightarrow$ Mua nguyên liệu, bán thành phẩm (FOB/OEM) $\rightarrow$ Thiết kế gốc (ODM) $\rightarrow$ Sở hữu thương hiệu gốc (OBM).

Khái niệm phát triển doanh nghiệp dệt may do tác giả xác lập: "Phát triển doanh nghiệp dệt may là việc thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân trong nước vào lĩnh vực dệt may, nhằm gia tăng cả về số lượng doanh nghiệp cũng như chất lượng doanh nghiệp nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành dệt may trong bối cảnh ảnh hưởng của CMCN 4.0 và hội nhập quốc tế. Mục tiêu cuối cùng của phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0 và hội nhập là nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng tạo ra bởi các doanh nghiệp dệt may trong nước và có những chuỗi giá trị dệt may do các doanh nghiệp Việt Nam tổ chức và phát triển."

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hoàn toàn phương pháp nghiên cứu định tính với các công cụ cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk research): Thu thập, tổng quan tài liệu lý luận và thực tiễn để xác định khoảng trống nghiên cứu.
  • Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp – so sánh, diễn giải – quy nạp: Phân tích dữ liệu thực trạng phát triển giai đoạn 2007–2018, so sánh sự thay đổi trước và sau mốc thời gian năm 2014.
  • Phương pháp phân tích SWOT: Được áp dụng tại Chương 3 và Chương 4 để xác định Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Thách thức (Threats) của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Thu thập ý kiến từ các chuyên gia thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Thêu đan TP. Hồ Chí Minh và lãnh đạo các công ty dệt may tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh nhằm làm rõ các rào cản chính sách, tiếp cận vốn và định hướng công nghệ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Số liệu các cuộc Tổng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê (mã ngành cấp hai 13 và 14); số liệu xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, Hải quan Hoa Kỳ, Cơ quan Thống kê Châu Âu (Eurostat), Bộ Tài chính Nhật Bản, UN Comtrade; số liệu từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS); Báo cáo điều tra thực trạng sẵn sàng CMCN 4.0 của UNDP và Bộ Công Thương (2019).
  • Dữ liệu sơ cấp: Thông tin từ các cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia và nhà quản lý doanh nghiệp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phát triển doanh nghiệp dệt may, phân loại theo 4 tuyến nội dung chính: (1) Lý thuyết doanh nghiệp và vai trò nguồn lực chiến lược; (2) Tổ chức ngành, tính kinh tế quy mô và cụm liên kết ngành; (3) Chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cấp chuỗi; (4) Tác động của CMCN 4.0 đến phương thức sản xuất dệt may. Tác giả chỉ rõ các khoảng trống nghiên cứu về tính liên kết dệt - may và mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ số của doanh nghiệp Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển doanh nghiệp dệt may

Chương 2 luận giải các khái niệm, đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của doanh nghiệp dệt may và kinh nghiệm quốc tế:

  • Đặc trưng kinh tế - kỹ thuật:
    • Doanh nghiệp dệt: Mang tính thâm dụng vốn (được UNIDO phân loại), đòi hỏi tính kinh tế theo quy mô ở cấp doanh nghiệp, công nghệ có đặc tính không thể chia nhỏ (indivisibilities). Ngành dệt chịu ảnh hưởng cơ giới hóa mạnh mẽ ngay từ CMCN 1.0.
    • Doanh nghiệp may: Mang tính thâm dụng lao động, quy mô linh hoạt (từ may đo nhỏ lẻ đến nhà máy trên 10.000 công nhân). Tỷ lệ máy/người là 1:1, chịu tác động chính từ điện khí hóa (CMCN 2.0) và tự động hóa bộ phận.
    • Đặc trưng tập trung địa lý: Các doanh nghiệp may có xu hướng tập trung thành cụm để hưởng ngoại hiện Marshall, giảm chi phí giao dịch và chia sẻ đơn hàng lớn.
    • Đặc thù giới tính lao động: Tuyển dụng chủ yếu lao động nữ trẻ (dưới 25 tuổi). Vòng đời làm việc ngắn (5–7 năm), dẫn đến chi phí đào tạo tính theo thời gian làm việc hữu dụng cao hơn các ngành khác.
    • Chuỗi giá trị do người mua (Buyer) chi phối: Giá trị gia tăng phân bổ theo đường cong nụ cười, tập trung cao ở thiết kế, thương hiệu và phân phối; khâu cắt may gia công có giá trị thấp nhất.
  • Tiêu chí đánh giá sự phát triển: Bao gồm tiêu chí về lượng (số lượng doanh nghiệp, tốc độ gia tăng), cơ cấu (sở hữu, quy mô vốn, lao động, vùng lãnh thổ), chất lượng tài chính (doanh thu, lợi nhuận, ROA, ROE, hiệu suất lao động) và vị thế trong chuỗi (chỉ số AUV, RPI, REIR, tỷ trọng đơn hàng FOB/ODM/OBM).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận giải kinh nghiệm phát triển chuỗi cung ứng đồng bộ, phát triển cụm liên kết ngành và nâng cấp công nghệ của Trung Quốc và Ấn Độ, rút ra bài học cho Việt Nam về phát triển công nghiệp hỗ trợ và đào tạo nguồn nhân lực.

Chương 3: Thực trạng phát triển doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007–2018

Chương 3 phân tích thực trạng phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam thông qua hệ thống bảng biểu và dữ liệu thống kê:

Nhóm chỉ tiêu Thực trạng và số liệu nổi bật trong văn bản
Quy mô và số lượng Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng quy mô vốn nhỏ; đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn mỏng, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
Cơ cấu ngành dệt - may Mất cân đối nghiêm trọng: Phân ngành may phát triển ồ ạt do vốn đầu tư thấp; phân ngành dệt, nhuộm kém phát triển do thâm dụng vốn và rào cản môi trường.
Vị trí chuỗi giá trị Chủ yếu gia công cắt may (CMT) ở đáy đường cong nụ cười (giá trị chỉ chiếm 5–7% chuỗi); khâu thiết kế (chiếm 3% GTGT) và phân phối (chiếm 75% GTGT) phụ thuộc đối tác ngoại.
Phụ thuộc nguyên liệu Ngành dệt nhuộm chưa đáp ứng nhu cầu; phụ thuộc nặng nề vào nguyên phụ liệu nhập khẩu (đặc biệt từ Trung Quốc); sợi sản xuất trong nước chủ yếu xuất khẩu thô.
Chất lượng lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp; biến động lao động lớn; năng suất lao động chưa cao; thiếu hụt nhân lực thiết kế và quản trị chuỗi.
Mức độ sẵn sàng 4.0 (Khảo sát UNDP & Bộ Công Thương) - Ngành may: 73% không thể kiểm soát thiết bị bằng CNTT; 73% không dùng mô hình kỹ thuật số; 50% không thể nâng cấp kết nối; 7% dùng ERP; 1% dùng SCM; 19% không đào tạo kỹ năng mới cho lao động.
- Ngành dệt: 67% không thể kiểm soát thiết bị bằng CNTT; 62% không thể nâng cấp kết nối thiết bị; 10% đã kết nối thiết bị; 13% không chuẩn bị kỹ năng cho người lao động.

Chương 3 chỉ ra các vấn đề phát triển cốt lõi: gia tăng số lượng nhưng chưa gia tăng quy mô; mất cân đối cơ cấu dệt - may; lệ thuộc nguyên liệu đầu vào; quy mô vốn nhỏ và rào cản tiếp cận vốn đổi mới công nghệ; chất lượng lao động thấp và biến động lớn; mức độ sẵn sàng ứng dụng CMCN 4.0 rất thấp; thiếu các trung tâm nghiên cứu ứng dụng R&D.

Chương 4: Giải pháp phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN lần thứ tư

Chương 4 phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế, xu hướng thời trang thế giới dưới tác động của CMCN 4.0 và đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện hệ thống chính sách: Xây dựng cơ chế khuyến khích đổi mới công nghệ, ban hành các quy chuẩn pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng thành tựu CMCN 4.0 và chuyển đổi mô hình sản xuất.
  2. Phát triển hạ tầng kỹ thuật số: Tập trung đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông; thúc đẩy phát triển thương mại điện tử nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp kết nối chuỗi cung ứng và tiếp cận thị trường.
  3. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Đổi mới chương trình đào tạo nhân lực ngành dệt may theo hướng nâng cao kỹ năng số, kỹ thuật tự động hóa và thiết kế thời trang; triển khai mô hình phối hợp ba bên giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Cơ sở đào tạo.
  4. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ: Thiết lập cơ chế hỗ trợ tài chính, bảo lãnh tín dụng cho DNVVN đầu tư máy móc hiện đại, phần mềm quản trị (ERP, SCM), giải quyết hiện tượng suy giảm năng suất ngắn hạn trong giai đoạn đầu nâng cấp vốn vật chất.
  5. Phát triển cụm liên kết ngành (CLKN): Quy hoạch các khu công nghiệp dệt may tập trung có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh để phát triển công đoạn dệt, nhuộm; khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp may; hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong nước chuyển dịch lên phương thức sản xuất ODM và OBM.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần bổ sung lý luận về phát triển doanh nghiệp trong điều kiện phương thức sản xuất truyền thống (dựa thuần túy trên nền tảng vật lý) chuyển dịch sang phương thức sản xuất mới (kết hợp nền tảng vật lý với nền tảng phi vật lý, không gian mạng và kỹ thuật số) dưới tác động của CMCN 4.0.
  2. Hệ thống hóa và xác định khung tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá sự phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh cách mạng công nghiệp, kết hợp giữa lý thuyết nguồn lực, lý thuyết tổ chức ngành và lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Tổng kết có hệ thống bài học kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp dệt may của Trung Quốc và Ấn Độ, rút ra các hàm ý thực tiễn cho Việt Nam.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam giai đoạn 2007–2018; chỉ rõ các nguyên nhân gây ra sự mất cân đối cơ cấu giữa dệt và may, tình trạng phụ thuộc nguyên liệu ngoại nhập, hạn chế về năng lực vốn và công nghệ, mức độ sẵn sàng rất thấp đối với CMCN 4.0.
  3. Xác định các cơ hội, thách thức và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính khả thi, tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tỷ trọng giá trị gia tăng cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Hạn chế về dữ liệu thống kê: Do độ trễ trong các cuộc tổng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, các số liệu tổng hợp trong nước chỉ cập nhật được đến năm 2017, dữ liệu xuất nhập khẩu cập nhật đến năm 2018.
  • Hạn chế về phạm vi phân ngành: Do quy định phân loại thống kê, luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu ở các doanh nghiệp đăng ký mã ngành kinh doanh cấp hai là 13 và 14 theo VSIC, chưa thể bóc tách và phân tích riêng rẽ các doanh nghiệp thuộc mã ngành sợi nhân tạo (2030), doanh nghiệp cơ khí dệt may hay các đơn vị thiết kế thời trang độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Cập nhật số liệu giai đoạn sau năm 2018 để kiểm chứng và đánh giá mức độ thâm nhập thực tế của các công nghệ CMCN 4.0 (như AI, in 3D, robot may tự động) tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế vận hành của các trung tâm R&D chuyên ngành và mô hình cụm liên kết ngành dệt may sinh thái đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu bền vững.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh, Kinh tế công nghiệp và Quản lý kinh tế.
  • Nhà hoạch định chính sách: Các cán bộ tại Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS).
  • Nhà quản trị doanh nghiệp: Lãnh đạo các doanh nghiệp dệt may, đặc biệt là khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Các nội dung đáng tham khảo

  • Khung lý thuyết tích hợp giữa lý thuyết nguồn lực, tổ chức ngành và chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh chuyển đổi công nghệ.
  • Hệ thống dữ liệu thực trạng về cơ cấu doanh nghiệp, năng lực tài chính và kết quả khảo sát mức độ sẵn sàng CMCN 4.0 của ngành dệt may.
  • Đề xuất mô hình phối hợp ba bên (Nhà nước – Doanh nghiệp – Cơ sở đào tạo) trong đào tạo nhân lực và giải pháp phát triển cụm liên kết ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh CMCN 4.0?

Tác giả định nghĩa phát triển doanh nghiệp dệt may là việc thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân trong nước vào lĩnh vực dệt may, nhằm gia tăng cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn ngành trong bối cảnh CMCN 4.0 và hội nhập quốc tế. Mục tiêu cốt lõi là nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng tạo ra bởi doanh nghiệp dệt may trong nước và hình thành các chuỗi giá trị dệt may do chính doanh nghiệp Việt Nam tổ chức, phát triển.

2. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mất cân đối cơ cấu giữa ngành dệt và ngành may tại Việt Nam là gì?

Nguyên nhân bắt nguồn từ đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của hai ngành: Ngành dệt mang tính thâm dụng vốn cao, máy móc có tính không thể chia nhỏ, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và xử lý môi trường phức tạp nên doanh nghiệp tư nhân trong nước khó gia nhập. Ngược lại, ngành may mang tính thâm dụng lao động, vốn đầu tư ban đầu thấp, quy mô linh hoạt, thu hồi vốn nhanh nên các doanh nghiệp ồ ạt gia nhập. Sự kém phát triển của khâu dệt, nhuộm khiến ngành may lệ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.

3. Mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ CMCN 4.0 của doanh nghiệp dệt may Việt Nam được chỉ ra như thế nào?

Theo số liệu điều tra của UNDP và Bộ Công Thương được luận án dẫn chứng, mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp dệt may ở mức rất thấp:

  • Ở ngành may: 73% doanh nghiệp không thể kiểm soát thiết bị bằng CNTT; 73% không ứng dụng mô hình kỹ thuật số; 50% không thể nâng cấp kết nối thiết bị; chỉ 7% sử dụng phần mềm ERP và 1% sử dụng phần mềm SCM.
  • Ở ngành dệt: 67% doanh nghiệp không thể kiểm soát thiết bị bằng CNTT; 62% không thể nâng cấp kết nối thiết bị với hệ thống.

4. Tại sao ngành may có đặc thù tuyển dụng lao động nữ trẻ và điều này tác động thế nào đến chi phí đào tạo?

Ngành may đòi hỏi sự kiên nhẫn, tính khéo léo trong các thao tác vận hành máy, phù hợp với lao động nữ trẻ (dưới 25 tuổi). Tuy nhiên, sau độ tuổi 25, các kỹ năng thao tác và độ chuẩn xác của đường may có xu hướng giảm sút. Do chu kỳ làm việc của lao động may thường chỉ kéo dài từ 5 đến 7 năm, chi phí đào tạo lao động tính bình quân theo thời gian làm việc hữu dụng của ngành dệt may cao hơn so với các ngành công nghiệp có chế độ lao động gắn bó dài hạn.

5. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để phát triển doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh mới?

Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ; (2) Phát triển hạ tầng CNTT, viễn thông và thương mại điện tử; (3) Đào tạo nhân lực chất lượng cao thông qua mô hình hợp tác ba bên; (4) Hỗ trợ tài chính, tín dụng giúp doanh nghiệp đổi mới máy móc thiết bị; (5) Quy hoạch và phát triển cụm liên kết ngành dệt may, thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất từ CMT sang ODM và OBM.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Vân Anh là công trình nghiên cứu hệ thống về sự phát triển của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và bối cảnh CMCN 4.0. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích chuỗi giá trị và tổ chức ngành, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn nội tại về cơ cấu quy mô, sự phụ thuộc nguyên liệu, năng lực công nghệ và mức độ sẵn sàng số hóa của các doanh nghiệp. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện chính sách, phát triển hạ tầng số, đào tạo nhân lực và hình thành cụm liên kết ngành nhằm nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp dệt may tư nhân trong nước. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác nghiên cứu kinh tế phát triển cũng như hoạch định chính sách công nghiệp tại Việt Nam.