MỞ ĐẦU e Chương 3: Cơ sở lý thuyết. Trình bày các cơ sở lý thuyết về các mô hình liên quan đên đê tài khóa luận. e Chương 4: Mô hình biểu diễn ngữ cảnh nhận thức ngữ nghĩa. Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày chỉ tiết về mặt toán học của kiến trúc mô hình SemBERT.
Đồng thời, dựa vào kiến trúc mô hình SemBERT chúng tôi tạo ra mô hình biến thể phù hợp cho thí nghiệm. e Chương 5: Thí nghiệm và Kết quả. Chương này bao gồm việc giới thiệu bộ ngữ liệu Lorelei và bộ ngữ liệu VLSP-2021. Ngoài ra, chúng tôi cũng tinh bay các độ đo để đánh giá hiệu suất mô hình.
Tiếp theo bao gồm Quá trình thực hiện, Kết quả, Phân tích và cuối cùng là Kết luận và hướng phát triển của thí nghiệm. e Chương 6: Kết luận và hướng phát triển. Trong chương này, chúng tôi trình bày các kết quả đạt được từ khóa luận và hướng phát triển trong tương lai. TONG QUAN Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày định nghĩa, vai trò, cũng như các công trình liên quan của hai bài toán Phát hiện kế thừa văn bản và Gán nhãn vai nghĩa.1 Bài toán Phát hiện kế thừa văn bản (Recognizing Textual Entailment) 2.1 Cơ sở kế thừa văn bản Kế thừa văn bản trong ngôn ngữ tự nhiên là mối quan hệ có hướng giữa các câu hoặc các đoạn của văn bản.
Mối quan hệ được gọi là suy luận khi văn bản tiên đề nối tiếp văn bản giả thiết, hay giả thiết được suy ra một cách trọn nghĩa của tiên đề. Một cách tổng quát, đối với một văn bản T (tiên đề) với một thể hiện của nó là giả thiét H. Ta nói rằng 7 kế thừa H, kí hiệu 7 — H, nếu ý nghĩa của H suy ra được từ văn bản T khi đặt trong ngữ cảnh của 7. Trong hội nghị RTE-4 đã định nghĩa về kế thừa văn bản và định nghĩa này sẽ được tiếp cận trong toàn bộ khóa luận như sau: “Ké thừa văn bản là một quan hệ có hướng giữa hai văn bản ké thừa T và văn bản được ké thừa H nếu như tính chất đúng của H có thể suy ra được từ T trong boi cảnh mà T sinh ra”.
Dưới đây là một số ví dụ minh họa để hiểu rõ hơn về khái niệm kế thừa văn bản: CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN Bảng 2. Ví dụ về kế thừa văn bản trong tiếng Việt. Văn bản Giả thuyét Kê thừa Google là công ty đa | Google sở hữu Alphabet.
| Không quốc của tập đoàn AI- phabet. Mưa lớn được ghi nhận | Hà Nội ở khu vực Bắc | Có ở Hà Nội, thuộc khu vực | Bộ. Bắc Bộ từ thứ ba. Chiếc xe hơi của anh trai | Anh trai tôi không thích | Không xác định tôi đã va vào cổng trường | lái xe hơi.
học, và phải bồi thường cho họ. Công ty Lazada được đặt | Công ty Lazada có trụ sở | Không ở thành phố HCM, đã | ở tỉnh Đồng Tháp. hủy đơn hàng của tôi ở tỉnh. Các bác sĩ tình nguyện | Các bác sĩ tình nguyện có | Có có kết quả dương tính | dấu hiệu mắc Covid-19.
Covid-19 vào ngày hôm qua.2 Phát hiện kế thừa văn ban Theo hội nghị RTE-1 định nghĩa, Phát hiện kế thừa văn bản là bài toán xác định, với hai đoạn van bản được cho trước, liệu ý nghĩa của một đoạn van bản có được suy luận ra từ văn bản còn lại hay không [4]. Theo MacCartney và Manning định nghĩa, Suy luận ngôn ngữ tự nhiên (Natural Language Inferrence) còn được hiểu như Phát hiện kế thừa văn bản là nhiệm vụ xác định xem liệu một giả thuyết (hypothesis) ngôn ngữ tự nhiên có thể được suy ra từ một tiền dé (premise) nhất định hay không [5]. Bài toán Phát hiện kế thừa văn bản được phát biểu một cách tổng quát như sau: e Đầu vào: Tập các cặp văn bản 7 và giả thuyết H. e Đầu ra: Nhãn kế thừa gồm entailment, neutral, và contradiction.
Nhãn kế thừa có dùng dé xác định mối quan hệ kế thừa, được gán một cách thủ công, có ý nghĩa như sau: e Kế thừa (entailment): có ý nghĩa rằng 7 kế thừa H. BÀI TOÁN PHÁT HIỆN KẾ THỪA VĂN BẢN (RECOGNIZING TEXTUAL ENTAILMENT) e Trung tính (neutral): có nghĩa rằng không có đủ điều để xác định liệu 7 kế thừa H hay không. e Mau thuẫn (contradiction): có nghĩa rằng T không kế thừa H. Bên cạnh đó, nhãn phân loại mối quan hệ kế thừa cũng có thể được đặt thành những tên khác nhưng ý nghĩa không thay đổi, điển hình như nhãn được gán trong bộ ngữ liệu VLSP-2021 ở tác vụ Gan nhãn vai nghĩa là: argee, neutral, và disagree cũng có ý nghĩa lần lượt là kế thừa, không đủ điều kiện xác định, và không kế thừa.3 Ứng dụng của Phát hiện kế thừa văn bản Tiếng Việt là một thứ tiếng mang nhiều ngữ nghĩa, điều này có thể dẫn đến hiện nhập nhằng trong văn nói hoặc văn viết.
Tuy nhiên, hiện tượng này ít được chú ý đến trong thực tế bởi con người có thể xử lí tốt hiện tượng này. Nhập nhằng là hiện tượng mơ hồ về ý tưởng làm mất ranh giới giữa cái này và cái nọ. Hiện tượng nhập nhằng xảy ra hầu hết trong ngôn ngữ tiếng Việt và không tránh khỏi quy luật chung. Một số hiện tượng nhập nhằng thường gặp như: e Hiện tượng nhập nhằng do viết sai chính tả tiếng Việt.
e Hiện tượng nhập nhằng về phạm vi, ranh giới giữa các từ. e Hiện tượng nhập nhằng do tính đa nghĩa của từ. e Hiện tượng nhập nhằng ngữ nghĩa khi sử dụng các từ đồng âm. e Hiện tượng nhập nhằng trong cách phân biệt từ loại.
e Hiện tượng nhập nhằng khi sử dụng tiếng Việt không dấu. e Hiện tượng nhập nhằng về sự vận dụng. e Hiện tượng nhập nhằng trong phân tích cú pháp tiếng Việt. Nhiều bài toán về Hiểu ngôn ngữ tự nhiên như Hỏi đáp, Tóm tắt văn bản, hay Rút trích thông tin (Information Retrieval) sẽ gặp khó khăn trong quá trình xử lí khi gặp hiện tượng nhập nhằng.
Vì thế, bài toán Phát hiện kế thừa văn bản được phát triển CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN thành hệ thống để xử lí các vấn dé suy luận cho cái bài toán vừa nêu. Ngoài ra, nó còn được dùng như một hệ thống đánh giá mức độ hiểu ngôn ngữ tự nhiên của các bài toán Xử lí ngôn ngữ tự nhiên nói chung. Đối với các hệ thống tìm kiếm thông tin, khi việc tìm kiếm thông tin dựa vào là các từ khóa (key word) thì kết quả trả về sẽ là một tập kết quả rất lớn.
Ngoài ra, một điểm yếu khác là khi văn bản không chứa từ khóa của truy vấn nhưng có cùng ý nghĩa thì kết quả hệ thống vẫn trả về là không thể tìm thấy. Vì thế vai trò của bài toán Phát hiện kế thừa văn bản sẽ được thể hiện ở chỗ các văn bản thể hiện thông tin sẽ đóng vai trò là văn bản 7. Trong khi đó, các câu truy vấn sẽ đóng vai trò là giả thuyết H, những câu truy van nay sẽ khác các từ khóa về kích thước câu (thường là dài hơn) cũng như chúng sẽ được thể hiện dưới dạng ngữ nghĩa hơn là những từ xuất hiện trong văn bản 7. Từ đó, bài toán Phát hiện kế thừa văn bản sẽ xác định những văn bản phù hợp cũng như không phù hợp cho các truy vấn.
Tương tự, đối với các hệ thống Hỏi đáp, văn bản ngữ cảnh và những câu hỏi sẽ đóng vai trò là văn bản 7 và giả thuyết H. Nhiệm vụ của bài toán Phát hiện kế thừa văn bản sẽ giúp hệ thống xác định định ra mối quan hệ kế thừa giữa văn bản ngữ cảnh và câu hỏi. Từ đó giúp hệ thống xác định câu trả lời một cách chính xác và nhanh chóng. Ngoài ra, đối với các thống Dịch máy, bài toán Phát hiện kế thừa văn bản có thể được áp dụng để đánh giá độ chính xác của các bản dịch từ máy.
Cụ thể, bản dịch của con người sẽ được xem là văn bản 7 và các bản dịch từ máy sẽ đóng vai trò là giả thuyết H. Các ban dịch đúng sẽ có mối quan hệ kế thừa với bản dịch của con người.4 Các công trình liên quan 2.1 Cac nghiên cứu trên tiếng Anh Phát hiện kế thừa văn bản nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực Xử lí ngôn ngữ tự nhiên. Hàng loạt những hội nghị và công bố khoa học về xây dựng bộ ngữ liệu cũng như cải thiện phương pháp cho bài toán này được tổ chức và dé xuất. Đặc biệt, chuỗi về bài toán Phát hiện kế thừa văn bản có tên The PASCAL Rec- ognizing Textual Entailment Challenge (viết tắt là RTE) được tổ chức liên tục từ 10 2.
BÀI TOÁN PHÁT HIỆN KẾ THỪA VĂN BẢN (RECOGNIZING TEXTUAL ENTAILMENT) năm 2005 đến năm 2011. Mục tiêu chính của chuỗi hội nghị là tổng hợp các phương pháp cho bài toán Phát hiện kế thừa văn bản cho kết quả tốt thông qua cuộc thi. Hội nghị RTE-1 [4] được tổ chức vào năm 2005, đã đưa ra những tiêu chuẩn đầu tiên cho bài toán Phát hiện kế thừa văn bản. Bộ ngữ liệu của hội nghị RTE-1 bao gồm văn bản 7 khoảng một hoặc nhiều câu và giả thuyết gồm một câu.
Các đội tham gia có nhiệm vụ đưa ra quyết định liệu mỗi cặp (7, H) có kế thừa nhau hay không. Tại hội nghị này, các đội tham gia chủ yếu xét sự trùng lặp về từ vựng giữa T và H. Vì thế, các mô hình được dé xuất chủ yếu là các mô hình dựa trên tính toán lô-gít hoặc các mô hình xác suất. Các hội nghị từ RTE-2 [6] đến RTE-5 [7] vẫn tiếp tục được phát triển từ cuộc thi RTE-1 với thách thức lớn cho các đội tham gia chính là việc tăng chiều dài của văn bản (nâng lên mức độ là đoạn).
Ở hội nghị RTE-2 được tổ chức năm 2006 đã cung cấp nhiều các mau dữ liệu thực tế của cặp văn bản 7 - giả thuyết H, chủ yếu đến từ các hệ thống trong thực tiễn. Các mô hình được đề xuất ở hội nghị cho độ chính xác tốt, sử dụng thêm thông tin về cú pháp và ngữ nghĩa từ nhiều nguồn dữ liệu khác. Các hội nghị RTE-6 [8] và RTE-7 [9] được tổ chức sau đó đã có sự khác biệt so với các hội nghị trước đây. Kế thừa văn bản được thực hiện trên một tập ngữ liệu và sử dụng một tập hợp cơ sở dữ liệu tri thức (knowledge base population) cho việc phát hiện kế thừa văn bản.
Bài toán được đưa ra là tập trung kế thừa dựa vào ngữ cảnh.