Chương 1 TONG QUAN 1. Tinh hình chăn nuôi dê sữa trên thé giới Dé là một trong những động vật nhai lại thuần hóa nhỏ nhất và đã phục vụ con người lâu hơn bò hoặc cừu. Dê được nuôi chủ yếu dé lấy thịt cung cấp thực pham cho con người, sữa dê không được tiêu thụ đáng kê. Tuy nhiên, có một nhận thức ngày càng tăng về tam quan trong của sữa dé bởi vì nó bổ đưỡng, tốt cho sức khỏe và là thực phẩm chức năng.
Ngoài ra, sữa dé đã được khuyến cáo cho những bệnh nhân bi di ứng từ sữa bò hoặc các nguồn thực phẩm khác. Sữa dê chứa protein, vitamin, khoáng chất, nguyên tốvi lượng, chất điện giải, enzyme và axit béo có thé dé dang bị đồng hóa bởi cơ thé. Dê được coi là một nhà sản xuất sữa hiệu quả hơn so với cừu và trâu dựa trên trọng lượng sống, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn, thời gian tiết sữa cao hơn, mô tuyến vú so với tỷ lệ trọng lượng cơ thê lớn hơn và phản xạ tiết sữa rõ rệt hơn. Do đó, cần phải xem xét và quan tâm đến tiềm năng sản xuất sữa của dê (Idowu va cs, 2017).
Trên thế giới, số lượng dê có sự gia tăng liên tục từ những năm 2002 đến 2018 (Hình 1.1), trong giai đoạn 2000 - 2013 đã tăng 33,8 %, trong đó chau A liên tục giữvị trí đầu tiên với mức đóng góp khoảng 59,4 %. Sản lượng sữa dê thế giới đã tăng 39,2 % trong giai đoạn 2000 - 2012. Ở tất cả các châu lục, ngoại trừ châu Âu, sản lượng sữa đã tăng lên đáng kể. Châu Dai Dương có mức tăng ngoạn mục lên tới 71,4 %.
Các nước có ngành sản xuất sữa dé lớn trên thế giới là An Độ, Bangladesh, Pakistan và Sudan. Sữa đê thực sự là nguồn sản phẩm tiềm năng trong việc ôn định kinh tế và an sinh xã hội (Skapetas và Bampidis, 2016). 1100000000,0 1000000000,0 __ SDLCƯEỐOỢN,G 900000000,0 a —-A 800000000,0 i a 700000000,0 600000000,0 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014 2016 2018 2020 NAM Hình 1. Biéu đồ số lượng dé trên thé giới (Nguồn: http://www.org/faostat/en/data/QA) 1.
Chăn nuôi dê sữa ở Việt Nam 1. Tình hình chan nuôi dê sữa Bảng 1. Tông đàn dê theo vùng sinh thái năm 2020-2021 Tang trưởng2021/2020 Vùng 2021 2020 Ngàn con Ngàn con % DB Sông Hồng 99,5 98,1 101,5 Mién nui va Trung du 733,6 768,6 95,4 Bac Trung B6 & DHMT 652,9 645,4 101,2 Tay Nguyén 269,9 223,9 120,5 Đông Nam Bộ 485.8 102,2 DB sông Cửu Long 413,4 398,4 103,7 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2021 (trích dẫn bởi Bùi Thị Nga và cs, 2022) Xét theo địa phương, 10 tỉnh có tổng đàn lớn nhất cả nước lần lượt là Nghệ An, Đồng Nai, Bến Tre, Sơn La, Hà Giang, Bình Phước, Thanh Hóa, Tiền Giang, Ninh Thuận và Đắk Lăk. Số lượng dê của 10 tỉnh này cộng lại là 1623,2 ngàn con, chiếm tỷ lệ 61,1 % tổng đàn của cả nước.
Nghệ An là tinh chăn nuôi nhiều dê nhất, với tổng đàn là 241,2 ngàn con, chiếm tới 9,1 % tổng đàn của cả nước. Đồng Nai là tỉnh có tổng đàn đứng thứ 2 với 232,1 ngàn con, chiếm tỷ lệ 8,7 % tổng dan cả nước. Tiếp theo đó, Bến Tre có tổng đàn là 185,8 ngàn con, Sơn La có tông dan là 162,8 ngàn con, Hà Giang có tông đàn là 157,5 ngàn con, Bình Phước có tổng đàn là 151,7 ngàn con. (Nguồn:https://file.vn/data/39/documents/2022/06/07/btvkhoakt/kh ai-quat-ve-tinh-hinh-chan-nuoi-va-tieu-thu-de-tai-viet-nam.
Số dê xuất chuồng cung ứng cho thị trường theo vùng sinh thái Số lượng năm Số lượng năm Tăng trưởng Vùng sinh thái 2021, ngàn con 2020, Ngàncon 2021/2020, % DB Sông Hong 67,1 70,7 94,9 Miền núi và Trung du 312,6 323,9 96,5 Bắc Trung Bộ&DHMT 433,9 431,0 100,7 Tây Nguyên 104,7 87,9 119,1 Đông Nam Bộ 2TIA 279,7 99,2 DB sông Cửu Long 228.4 205,7 111,0 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2021 (trích dẫn bởi Bùi Thị Nga và cs, 2022) Xét theo địa phương, 10 tỉnh cung ứng lượng dé ra thị trường nhiều nhất là Thanh Hóa, Đồng Nai, Bến Tre, Nghệ An, Hà Giang, Ninh Thuận, Tiền Giang, Bình Phước, Đăk Lak, và Sơn La với tong số 940,2 ngàn con, chiếm 66 % tổng lượng cung ứng của cả nước. Trong đó, Thanh Hóa và Đồng Nai là hai tỉnh cung ứng dê ra thị trường nhiều nhất, tương ứng là 178,4 ngàn con, và 178,3 ngàn con, chiếm 25 % tổng lượng cung ứng của cả nước. Tiếp theo là các tỉnh Bến Tre 102,7 ngàn con, Nghệ An 95,3 ngàn con, Ha Giang 88 ngàn con. Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh là các tỉnh có lượng cung ứng dé ra thị trường ít nhất, với số lượng chi xp xi 1000 con.
(Nguồn:https://file.vn/data/39/documents/2022/06/07/btvkhoakt/kh ai-quat-ve-tinh-hinh-chan-nuoi-va-tieu-thu-de-tai-viet-nam. Đặc điểm của giống dê Bach Thảo và Saanen trong nghiên cứu 1. Dê Bách Thảo Nguồn gốc, phân bố và đặc điểm ngoại hình Tên Bách Thảo xuất phát từ nghĩa đen đơn thuần là cũng giống như dé Co, giống dê này có thể ăn được hàng trăm loại cỏ, lá cây khác nhau (Lê Thanh Hải và es, 1994; Dinh Văn Bình, 1994). Cho đến nay nguồn gốc của giống dé này chưa được xác định một cách chính xác, nhiều nhà khoa học cho rằng dê Bách Thảo có thé có nguồn gốc từ sự lai tạp tự nhiên giữa một số giống đê ở Châu Au và một số giống dé từ Ấn Độ với dê Cỏ ở các tỉnh phía Nam nước ta, các giống dê ngoại này được du nhập vào Việt Nam theo con đường truyền đạo.
Kết quả nghiên cứu cấu tạo và đánh giá, so sánh câu trúc gen cho thay dê Bách Thảo có nguồn gốc từ một số giống dé của Ấn Độ, được tạp giao với dé Có hoặc một số cá thé là những thế hệ con cháu của một số giống đê Ấn Độ và một số nước quanh khu vực (Ken Nozawa và cs, 1998). Dê Bách Thảo trước đây được nuôi nhiều ở Ninh Thuận và một số tỉnh phía Nam nước ta. Đầu những năm 1990 đê Bách Thảo được đưa ra nuôi nhiều ở Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây sau đó phát triển rộng ra các tỉnh phía Bắc. Dê Bách Thảo phần lớn có màu lông đen có 2 sọc trắng dọc theo mặt, tai, 4 bàn chân và trắng ở dưới bụng; một số có màu đen tuyền và lang trắng đen không có quy luật (Hình 1.
Dê Bách Thảo có đầu thô và dài, đa số có sừng, sừng nhỏ và dài có hướng ngả về sau, sang hai bênvà ít xoắn vặn, sống mũi hơi đô, tai to rủ xuống, miệng rộng, phần lớn không có râu cằm. Con cái có cổ thanh chắc, mông và bụng nở nang, bầu vú hình bát úp, núm vú dài 4 - 6 cm. Lông dê Bách Thao ngắn, mượt, sự chênh lệch về độ dài lông giữa các phần không nhiều, con đực có lông thô, dài hơn con cái và thường có bờm lông dài hơn ở sau gáy chạy dọc xuống sông lưng. Trưởng thành con đực nặng 60 - 70 kg, cao87,4 cm; con cái nặng 38 - 45 kg, cao 66,7 cm.
Kết cấu cơ thé dê Bách Thao ở dạng kiêm dụng sữa - thịt (Dinh Văn Binh, 1994; Nguyễn Kim Lin và cs, 2004b). Kha nang sinh san Dé Bách Thao có khả năng sinh sản tốt, thành thục về tính khoảng 6 - 7 tháng tuổi và bước vào sinh sản sớm khoảng 12 - 13 tháng, trung bình cho 1,7 - 2,09 con sơ sinh/lứa, khoảng cách lứa đẻ ngắn 230 - 250 ngày. Theo Đinh Văn Bình (1994); Nguyễn Thị Mai (2000), có khoảng 3 — 5 % số lứa đẻ sinh 4 con, trên 30 % số lứa đẻ sinh 3 con và trên 40% số lứa đẻ sinh 2 con. Số con sơ sinh/cái/năm trung bình từ 2,5 - 3,4 con với ty lệ nuôi sống dé con đến cai sữa cao trên 90%.
Điều này cho thay dé Bách Thảo có khả năng sinh sản tốt hơn nhiều giống dê khác trên thế giới (Saanen, Alpine, các giống dé kiêm dung của An Độ như Beetal, Jumnapari ). Khả năng sản xuất sữa Lê Văn Thông (2005) cho rằng dê Bách Thảo nuôi tại vùng Thanh Ninh cho kết quả thấp hơn, sản lượng sữa đạt 126,75 kg/chu kỳ là 149,5 ngày Năng suất sữa của dê Bách Thảo cao nhất ở tháng thứ nhất trong chu kỳ tiết sữa, sau đó giảm dan. Khả năng tiết sữa của dé Bách Thảo tăng dan từ lứa đẻ thứ nhất (1,103 kg/ngày) đến lứa đẻ thứ 3 (1,288 kg/con/ngay), ôn định ở lứa đẻ thứ tư (1,277 kg/con/ngày) sau đó giảm dan đến 1,084 kg/con/ngày ở lứa đẻ thứ 8 (Dinh Văn Binh, 1994). Dê Saanen Nguồn gốc, phân bố và đặc điểm ngoại hình Theo Devendra và Marca Buns (1983), đê Saanen có nguồn gốc ở miền Tây và Tay Bắc của Thuy Sỹ.
Saanen là giống dé sữa, có tiềm năng cho sữa cao hơn bat cứ giống đê nào khác trên thế giới. Do đó chúng đã được phô biến khắp thế giới, trong đó một số nước vùng nhiệt đới như Australia, Puerto Rico, các nước Tây An Độ, An Độ, Fiji, Ghana, Han Quốc, Israel, Malaysia va Philippin. Dê Saanen thường được coi là ít phù hop với vùng nhiệt đới hơn các giống dê châu Âu khác. Chúng không đáp ứng tốt với cường độ ánh sáng mặt trời lớn.
Ở vùng ôn đới, năng suất sữa của détrung bình dat 1000 - 1300 kg/chu kỳ 300 - 330 ngày, ở vùng nhiệt đới năng suất sữađạt 1 - 3 kg/con/ngày, tỷ lệ mỡ sữa trung bình là 3,5 %. Dê Saanen được nhập về miền Nam Việt Nam từ Pháp năm 1995 (Duong Thanh Liem và cs, 2003). Năm 1998, 05 dê đực và 07 dê cái Saanen Pháp được đưa ra nhân nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây; tháng 2 năm 2002, dê Saanen được nhập từ Mỹ về Việt Nam với số lượng 05 con đực và 35 con cái. Đàn dê Saanen được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây với mục tiêu nhân thuần và sử dụng làm nguyên liệu lai tạo đê hướng sữa Việt Nam.
Sau hơn 07 năm với Saanen Pháp và hơn 04 năm với Saanen Mỹ, ngoài đàn dê Saanen được nuôi giữ tại Trung Tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây là 150 con, đã nhân ra và cung cấp trên 200 đê Saanen cho các địa phương để nhân nuôi và lai tao với đàn dé địa phương. Dê Saanen có tầm vóc lớn, lông từ màu trắng đến màu kem nhạt và màu bích quy nhạt với các đốm đen nhỏ ở mũi, tai và bau vú, lông ngắn, sông mũi thang, tai thang lên hướng về phía trước. Giống dé này có dạng không sừng, hiện tượng lưỡng tính là phô biến và được cho là có liên kết với gen quy định không sừng vì vậy trongthực tế người ta thường chỉ sử dụng các đê đực có sừng. Trưởng thành con đực nặng 75 - 85 kg, cao vây 90 cm; con cái nặng 65 kg, cao 75 cm (Devendra va Mcleroy, 1987).