CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE HỢP TÁC NGOẠI KHOI CUA ASEAN 1. Dinh nghia Sau thé chiến thứ IL, với nhiều sự biến chính tri xảy ra trên thế giới đã tạo ra “khoảng trống quyền lực” giữa các quốc gia phương Tây trong khu vực. Các nước >>] Đông Nam Á lúc đó đứng giữa hai sự biến: một là không muốn rơi vào tình thế phụ thuộc như trước do đó muốn tạo một khoảng trống an toàn cho chính quốc gia mình dé không bị rơi vào cuộc chiến lưỡng cực giữa phe xã hội chủ nghĩa ( đại diện là Liên Xô cũ) và phe tư ban chủ nghĩa ( đại điện là Mỹ); hai là dé tránh phong trào giải phóng dân tộc tự diễn biến và trở thành nội chiến; do vậy, sự lựa chọn khôn ngoan đó chính là các nước Đông Nam Á bắt tay với nhau để tạo thành một liên minh. Trong suốt quá trình tìm kiếm sự cộng tác giữa các nước Đông Nam Á, nhiều tố chức khu vực đã được hình thành phải kế đến như SEATO, ASA, MAPHILINDO, ASPAC.tuy nhiên, điểm chung của các tổ chức này là đều dẫn đến sự tan dã vì nhiéu lí do trong đó có sự can thiệp từ các cường quốc bên ngoài).
Cho đến ngày 8/8/1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A (ASEAN) được thành lập với 5 thành viên ban đầu bao gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines và sau đó mở rộng kết nạp thêm những thành viên khác với những thời kì khác nhau, hiện tại ASEAN bao gồm 10 thành viên. Khác với các tô chức được nêu trên, ASEAN là tổ chức tồn tại lâu nhất, tính đến năm 2023, ASEAN đã tổn tại được 56 năm. Trong ASEAN, các quốc gia Đông Nam A hợp tác với nhau dựa trên ba trụ cột chính bao gồm: Cộng đồng Chính trị An Ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hoá — xã hội. Tuy nhiên, không dừng lại ở việc hợp tac trong khu vực, ASEAN còn hướng tới hợp tác ngoài khu vực.
Những năm đầu thập kỷ thứ 7 của thế kỷ XX, quá trình mở rộng quan hệ hợp tác ngoại khối bên cạnh việc tang cường hop tác nội khối được các thành viên trong 1 Trường đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình pháp luật công dong ASEAN, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 2 Tài liệu đã được dẫn ASEAN đề cao. Cu thé, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất được tổ chức tại Bali, Indonesia tháng 2/1976 là một bước đi đầu trong việc ghi nhận về mặt ý chí về hợp tác ngoại khối. Việc hợp tác ngoài khu vực của ASEAN được ghi nhận tại điều 6 trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á 1976 ( Hiệp ước TAC), cụ thể “Các bên kí kết cấp cao sẽ cộng tác với nhau hướng đến sự tăng trưởng kinh tế.
các bên sẽ thúc đây những lợi thế về nông nghiệp và công nghiệp của chính nước họ, thúc đây sự mở rộng về thương mại và sự cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế. Tiếp nữa về van dé kinh tế, các bên kí kết cấp cao sẽ tiếp tục tìm kiếm những con đường hợp tác chặt chẽ và có lợi với các quốc gia khác, cũng như các tô chức quốc tế và tô chức ngoài khu vực ASEAN”?. Tuyên bồ Bali II (2003) tiếp tục xác nhận rằng hợp tác ngoại khối là một phần hoạt động của ASEAN khi công nhận "tính mo" của Cộng đồng ASEAN, cụ thể tại phần Lưu Tâm “.việc mở rộng của ASEAN lên 10 nước trong khu vực Đông Nam Á. việc tham gia trong tương lai vào Hiệp ước Hợp tác và Thân thiện (TAC) của quốc gia ngoài khu vực Đông Nam A”.
Diéu này có nghĩa là việc công nhận một Cộng đồng mở rộng hợp tác với các bên bên ngoài, mở cửa cho các thực thê không phải là thành viên tham gia vào quá trình và các hoạt động hợp tác của Cộng đồng ASEAN. Thê chế hoá về hop tác ngoại khối, chương XII của Hiến chương ASEAN 2007 đã quy định rõ ràng về cách thức dé triển khai hợp tác ngoại khối trong ASEAN. ASEAN là một té chức quốc tế, hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực nên hợp tác ngoại khối của ASEAN cũng duoc triển khai trên tất cả các lĩnh vực hợp tác. ASEAN thiện chí hợp tác với các thực thể quốc tế trong tất cả lĩnh vực, cụ thể bao trùm từ kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị néu sự hợp tác này mang lại lợi ích cho cả hai bên.
Vậy, hợp tác ngoại khối của ASEAN là gì? Dẫn chiếu theo Giáo trình pháp luật cộng đồng ASEAN năm 2019, chương V - Điều chỉnh pháp lý hợp tác ngoại > Xem-https://asean-aipr.org/wp-content/uploads/2018/07/Treaty-of-Amity-and-Cooperation-in- Southeast-Asia-1976-TAC. pdf, ngày truy cập 12/12/2023 khối của ASEAN trang 278. Hop tác ngoại khối được hiểu là: “Việc thiết lập và phát triển quan hệ hữu nghị giữa ASEAN với các đối tác ngoài ASEAN, hướng tới mục tiêu xây dựng khu vực hoá bình, an ninh và ôn định lâu dài, kinh tế tăng trưởng bền vững, thịnh vượng chung và tiến bộ xã hội. Đặc điểm của hợp tác ngoại khối trong ASEAN Dựa vào định nghĩa trên, đặc điểm của hợp tác ngoại khối ASEAN có thé được chỉ ra như sau: Thứ nhất, về lĩnh vực của hợp tác ngoại khối: ASEAN đã xác định và thúc đây hợp tác ngoại khối bao trùm lên tất cả lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hoá — xã hội.
Tuy nhiên, hợp tác kinh tế vẫn là hợp tác then chốt giữa ASEAN và các đối tác bên ngoài. Lý giải cho việc tai sao hợp tác kinh tế lại nỗi trội hơn với những hợp tác khác, có thé bao gồm những lý do chính sau: Trước hết, việc tăng cường hợp tác kinh tế giữa ASEAN và các đối tác bên ngoài sẽ thúc day sự phát trién và phát triển bền vững của nên kinh tế từ đó dẫn tới sự duy trì hoà bình và 6n định. Lập luận cho quan điểm này có thé nhắc tới chủ nghĩa tự do thương mại hóa trong học thuyết thé chế. Cụ thé, với quan điểm của chủ nghĩa tự do thương mại, sự gắn kết trao đôi thương mại và đầu tư cao giữa các quốc gia sẽ tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau và khi sự phụ thuộc càng cao thì khả năng giải quyết xung đột bằng vũ trang càng it, bởi sử dụng vũ trang sẽ gây tôn thất lớn về kinh té>.
Ngoài ra, việc hợp tác kinh tế giúp đa dang hóa thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấp, điều này làm tăng sự cạnh tranh và giảm rủi ro phụ thuộc vào một số thị trường cụ thê. Cuối cùng hợp tác kinh tế thường mang lại lợi ích trực tiếp và rõ ràng cho các bên. Thông qua thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế, nền kinh tế của các bên sẽ tăng trưởng, tạo ra việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. * Trường đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình pháp luật cộng đồng ASEAN, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
Ÿ Trường đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình pháp luật cộng đồng ASEAN, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. Tuy nhiên, bên cạnh trọng tâm của hợp tác ngoại khối là kinh tế, thì trước sự biến mang tính chất toàn cầu như dich bệnh, suy thoái môi trường sinh thái, tội phạm xuyên quốc gia, dịch chuyển thé nhân. đòi hỏi ASEAN và các thực thé ngoài khu vực cùng nhau hợp tác dé cùng chung tay bảo vệ, kiểm soát, va gin giữ sự bình an va sự sông còn của toan câu. Hợp tác kinh tế và thương mại giữa ASEAN và các đối tác bên ngoài điễn ra ở các phạm vi va mức độ khác nhau, phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ giữa ASEAN và các đối tác đó.
Trong lĩnh vực này, ASEAN thường hướng tới việc thiết lập các quan hệ đối tác kinh tế toàn diện (CEP) hoặc thiết lập khu vực thương mại tự do (FTA) với các đối tác. Việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại với các nên kinh tế bên ngoài ASEAN mang lại điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và thương mại của cả khu vực ASEAN và từng quốc gia thành viên. Điều này giúp ASEAN mở rộng thị trường xuất khâu, là một lợi thế của khu vực, và đặc biệt là thông qua việc áp dụng các ưu đãi cho nhau trong quá trình hợp tác cụ thê, tạo ra lợi ích đối với tất cả các bên và thúc đây sự phát triển và hội nhập của ASEAN với cộng đồng quốc tế. Ngoài ra, hợp tác với các đối tác bên ngoài cũng giúp ASEAN đối mặt với các van dé khủng hoảng tài chính và tiền tệ đã từng khiến khu vực này rơi vào khủng hoảng, đặc biệt là các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Hợp tác ngoại khối trong lĩnh vực chính trị - an ninh giữa ASEAN và các đối tác rất đa dang, từ những van dé an ninh truyền thống như: giải quyết tranh chấp lãnh thé, gin gữi hoà bình, ngăn chặn sự bùng nỗ và lây lan của các cuộc xung đột khu vực. cho đến các vấn dé an ninh phi truyền thống như hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia ( như cướp biên, tội phạm công nghệ cao, khủng bố, buôn bán người, tội phạm ma tuý. ), hé trợ nhân đạo và cứu trợ thảm hoạ thiên nhiên. Đặc biệt, với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình 5 Pham Hồng Hạnh ( 2020), “Hop tác ngoại khối của ASEAN - Những đóng góp của Việt Nam sau 25 năm gia nhập ”, tạp chí Luật học sô 12/2020, tr 46.
10 Dương, bao gồm các cường quốc hàng đầu trên thế giới và trong khu vực như Hoa Ky, Nga, Trung Quốc, An Độ, Nhật Ban., Diễn đàn An ninh khu vực (ASEAN Regional Forum - ARE) đã trở thành một cơ chế an ninh đa phương có phạm vi toàn khu vực, từ đó góp phần duy trì ôn định và hòa bình trong khu vực này. Nhiều chủ đề liên quan đến an ninh khu vực đã được thảo luận tại Kênh I của ARF từ năm 1994, bao gồm việc xây dựng lòng tin, gìn giữ hòa bình, cứu trợ và hỗ trợ thiên tai, van dé quốc phòng, chống khủng bố, an ninh mang, tội phạm mạng. Thông qua việc trao đổi và đối thoại, ARF đã cải thiện an ninh trong khu vực bằng cách kêu gọi các thành viên có những mâu thuẫn, bất đồng trên nhiều mặt đến bàn bạc và thảo luận về các vấn dé chung, nhằm tìm kiếm biện pháp giải quyết.