Chương 1 Giới thiệu 1. Giới thiệu bài toán siêu phân giải ảnh Siêu phân giải ảnh (image super resolution, SR) là việc tăng độ phân giải của một ảnh đầu vào bằng cách tạo ra một ảnh đầu ra có độ phân giải cao hơn, trong khi vẫn giữ gìn được những nội dung và đặc tính cấu trúc của ảnh đầu vào (như hình 1.1: Ví dụ về việc siêu phân giải lên 4 lần [5]. Siêu phân giải ảnh là một bài toán rất phổ biến trong đời sống, khoa học và sản xuất. Đối tượng của bài toán này rất đa dạng, ví dụ như: ảnh chụp, ảnh chiều sâu, ảnh cảm biến nhiệt, ảnh y khoa, v.
Do mang tính phổ biến trong đời sống, siêu phân giải ảnh đã trở thành một mảng khá sôi động của lĩnh vực thị giác máy tính (computer vision, CV), với rất nhiều công trình liên quan được xuất bản trong vòng 10 năm qua. Các công trình này phong phú đa dạng cả về loại ảnh cần siêu phân giải, hướng tiếp cận và cả các tính chất mong muốn của đầu ra. Dựa theo số lượng ảnh mà mô hình siêu phân giải cần xử lý trong từng lần, có 1 thể chia các bài toán siêu phân giải ảnh thành 2 loại. Chúng lần lượt là: bài toán siêu phân giải một ảnh (single-image super resolution, SISR) và bài toán siêu phân giải nhiều ảnh cùng lúc (multiple-image super resolution, MISR).
Dựa trên nội dung của ảnh đầu vào, bài toán siêu phân giải ảnh có thể được chia thành các bài toán con như: siêu phân giải ảnh thường, siêu phân giải ảnh y khoa, siêu phân giải ảnh vệ tinh, siêu phân giải ảnh nhiệt, v. Mỗi bài toán con như vậy sẽ có thêm những yêu cầu riêng đối với ảnh sinh ra. Ví dụ, siêu phân giải ảnh y khoa đòi hỏi sự trung thành cao về mặt nội dung với ảnh gốc, để đảm bảo các chuyên gia y tế có thể đưa ra các chẩn đoán chính xác. Xét đến hướng tiếp cận, bài toán siêu phân giải ảnh có nhiều cách tiếp cận khác nhau, theo sát các trào lưu của khoa học máy tính nói chung và thị giác máy tính nói riêng.
Cách tiếp cận dựa trên các giải thuật được thiết kế kỹ lưỡng hình thành trước tiên. Tiếp đến, cách tiếp cận học máy xuất hiện và dần thay thế các giải thuật được thiết kế cố định. Sau đó, học sâu được định hình và bùng nổ trong rất nhiều lĩnh vực của khoa học máy tính. Các nhóm nghiên cứu của bài toán siêu phân giải ảnh cũng không nằm ngoài trào lưu này.
Cách tiếp cận dựa trên học sâu xuất hiện và đã trở thành cách tiếp cận chủ đạo cho bài toán siêu phân giải ảnh cho đến tận ngày này. Theo nhóm, có 2 tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng ảnh đầu ra của một mô hình siêu phân giải, đó là: − Độ chính xác so với ảnh đầu vào: Tiêu chí này phản ánh mức độ sai khác về thông tin có trong ảnh được tạo ra và ảnh đầu vào. Nó thường được đo đạc bằng cách so sánh trực tiếp từng điểm ảnh hoặc một số đặc trưng được trích xuất ra từ mỗi ảnh. − Độ chân thật: Tiêu chí này đánh giá xem ảnh đầu ra có giống với một ảnh thực hay không.
Hay nói cách khác, độ chân thật liên quan tới khả năng con người không thể nhận diện được đâu là ảnh độ phân giải cao có sẵn, đâu là ảnh do một mô hình siêu phân giải tạo ra. Hiện nay, các công trình siêu phân giải ảnh dễ bị rơi vào một trong hai thái cực sau: 2 − Một số mô hình có độ chính xác rất cao, bảo toàn rất tốt những chi tiết từ ảnh đầu vào. Tuy nhiên, ảnh do chúng tạo ra không hề thân thiện với nhận thức của con người. − Ngược lại, một số mô hình sinh ra ảnh vô cùng chân thật.
Thế nhưng, vài chi tiết trong ảnh đầu ra lại bị sai lệch so với ảnh đầu vào. Đề tài và động lực chọn đề tài Nhóm quyết định chọn siêu phân giải ảnh làm đề tài của luận văn này. Động lực để chúng tôi đưa ra quyết định này chính là vai trò quan trọng của bài toán này đối với thực tiễn. Vai trò ấy có thể được giải thích bởi 3 lý do sau đây: − Nhu cầu về dữ liệu với độ phân giải cao ngày càng gia tăng: Độ phân giải cao sẽ cải thiện một cách rõ rệt kết quả của các công việc như chẩn đoán trong y học, nhận diện vật thể, hiển thị hình ảnh trên màn hình, v.
− Không phải lúc nào các dữ liệu độ phân giải cao cũng có thể thu thập trực tiếp được bởi sự hạn chế về công nghệ: Lấy ví dụ trong y khoa, các thiết bị chụp cộng hưởng từ (magnetic resonance imaging, MRI) hay chụp cắt lớp vi tính (computerized tomography, CT) có giới hạn nhất định về độ phân giải. Theo [12], mỗi khối ảnh (voxel) trong các ảnh MRI hay CT chỉ tương ứng với 1mm3 mô trong trường hợp tốt nhất. Ngoài ra, để chụp ảnh với độ phân giải cao hơn, người bệnh cần phải nằm im lâu hơn. Điều này có thể gây khó chịu cho bệnh nhân.
Hơn nữa, khi bệnh nhân nằm lâu, cơ thể có khả năng cử động nhẹ làm ảnh hưởng tới chất lượng ảnh chụp. Do đó, các giải thuật siêu phân giải ảnh được áp dụng lên các dữ liệu chất lượng thấp hiện có để tạo ra các dữ liệu chất lượng cao hơn. − Ứng dụng trong việc nén và giải nén các dữ liệu khi lưu trữ hoặc truyền tải: Hình ảnh hay video có thể được thu nhỏ lại để truyền đi nhanh hơn và dùng một giải thuật siêu phân giải phù hợp để phóng to trở lại ở đích đến. Phạm vi và mục tiêu của luận văn Trong luận văn này, nhóm chỉ tập trung vào cách tiếp cận học sâu cho bài toán siêu phân giải cho một ảnh (SISR).
Các ảnh đầu vào sẽ là ảnh thường, với nội dung phong phú đa dạng, bao quát các đối tượng thực thường gặp trong đời sống như con người, động vật, cây cỏ, cảnh quan, v. Về mặt kiến trúc mô hình, chúng tôi tập trung vào các mô hình siêu phân giải dựa trên học sâu. Nhóm đặt ra mục tiêu là phát triển một mô hình học sâu mới cho bài toán siêu phân giải ảnh với độ chân thực cao và tính chính xác được duy trì ổn định ở mức tốt. Đóng góp của luận văn này Nhóm xin tổng kết những đóng góp của nhóm cho học thuật và thực tiễn trong luận văn này như sau: − Đề xuất hệ mạng tạo sinh đối nghịch đặt lại tham số được dựa trên phép tính tập trung hiệu quả cho bài toán siêu phân giải (reparameterizable efficient attention-based super-resolution generative adversarial networks, REASR- GAN) dựa trên cơ sở của SwiftSRGAN [1], một mô hình học sâu nhỏ gọn cho bài toán siêu phân giải.
− Tích hợp cơ chế đặt lại tham số [2] (reparameterization) vào mạng tạo sinh của REASRGAN (REASRGAN generator, REAGen) để cải thiện kết quả của quá trình huấn luyện, trong khi vẫn giữ nguyên kích thước mô hình khi kiểm thử. − Tích hợp cơ chế tập trung hiệu quả [3] (efficient attention, EA) vào REAGen dưới dạng các khối tập trung hiệu quả kèm theo kết nối dư thừa (residual EA blocks, res-EA) nhằm mở rộng vùng tiếp thu (receptive field) ra toàn bộ ảnh, trong khi vẫn giữ được độ phức tạp tính toán ở mức tuyến tính. 4 − Đề xuất phát triển mạng phân biệt của REASRGAN (REASRGAN discrimi- nator, READis) dựa trên kiến trúc của StairIQA [4], và khởi tạo READis với bộ trọng số huấn luyện sẵn do nhóm tác giả gốc công bố, nhằm tận dụng khả năng đánh giá độ chân thật ảnh của StairIQA để hướng dẫn REAGen sinh ra ảnh gần gũi với cảm quan con người hơn. − Đề xuất quy trình huấn luyện qua 3 giai đoạn để cân bằng giữa độ chính xác và độ chân thực trong ảnh đầu ra, cũng như giữa sức mạnh của REAGen và READis.
Cấu trúc căn bản của luận văn này Về cơ bản, luận văn này bao gồm 5 chương. Trong đó, chương 1 chính là phần giới thiệu mở đầu này. Ở chương 2, nhóm tiến hành khảo sát qua các nghiên cứu trước đây về bài toán này để từ đó chọn ra một mô hình dùng làm cơ sở cho nghiên cứu của chúng tôi. Bên cạnh đó, các độ đo không tham khảo dựa trên học sâu cho bài toán này cũng được khảo sát.
Ngoài ra, chúng tôi còn trình bày về một số kỹ thuật học sâu sẽ được ứng dụng trong luận văn này. Ở chương 3, nhóm trình bày các đề xuất nhằm cải tiến mô hình cơ sở. Ở chương 4, chúng tôi tiến hành thực nghiệm để kiểm tra các đề xuất này, và phân tích đóng góp của từng bước cải tiến vào kết quả. Cuối cùng, ở chương 5, nhóm tổng kết lại những điều đã làm được, chưa làm được trong giai đoạn luận văn, cùng với những dự định tiếp theo trong tương lai.
5 Chương 2 Tổng quan tài liệu 2. Khảo sát các nghiên cứu về siêu phân giải ảnh Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong đời sống, khoa học và sản xuất, bài toán siêu phân giải ảnh ngày càng được nghiên cứu rộng rãi và sâu sắc. Từ đó, các giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết nó ngày càng phong phú đa dạng. Chúng tôi nhận thấy rằng các công trình này có thể được phân loại dựa vào các tiêu chí như: kiến trúc mô hình, số lượng đầu vào được xử lý và hiểu biết của mô hình về loại suy giảm chất lượng trong ảnh đầu vào.
Trong các tiểu mục tiếp theo, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát các nghiên cứu liên quan theo những tiêu chí này. Theo kiến trúc mô hình Dựa vào kiến trúc của mô hình, chúng tôi phân loại các giải thuật siêu phân giải ảnh thành các nhóm sau: học máy đơn giản và học sâu. Các giải thuật siêu phân giải ảnh sớm nhất là các giải thuật học máy đơn giản, chưa phải học sâu. Trong bài báo [13], Freeman và các đồng tác giả đã dựa trên mạng Markov và sự lan truyền Bayes.
Sau đó vài năm, nhóm của Chang trong bài báo [14] đã tận dụng các giải thuật học đa tạp (manifold learning). Trong khi đó, Yang và các cộng sự trong bài báo [15] dựa vào các kỹ thuật mã hóa thưa (sparse encoding) và lấy mẫu thưa (sparse sampling). Nhìn chung, các công trình này dựa vào các giải thuật đã được định nghĩa rõ ràng và tốn nhiều tài nguyên tính toán. Bên cạnh đó, chúng không khôi phục được tốt các thông tin tần số cao (high-frequency information) và không tận dụng được các bộ dữ liệu huấn luyện ngày càng phong phú và đồ sộ.