Mở đầu: Đặt ra vấn đề, mục tiêu và giải pháp cho bài toán tổng hợp ý kiến đóng góp trong hội nghị. Chƣơng 1: Giới thiệu tổng quan - các khái niệm cơ bản về khai phá quan điểm và bài toán tổng hợp quan điểm. Chƣơng 2: Trình bày các phƣơng pháp cho bài toán tổng hợp ý kiến chung. Chƣơng 3: Đề xuất mô hình cho bài toán tổng hợp ý kiến trong hội nghị.
Chƣơng 4: Thực nghiệm và đánh giá các phƣơng pháp, xây dựng demo cho việc xử lý và phân lớp các ý kiến mới. Kết luận & định hƣớng: Tổng kết lại những kiến thức đã tích lũy, kinh nghiệm đƣợc áp dụng trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Đƣa ra đƣợc các hƣớng phát triển trong tƣơng lai. TỔNG QUAN VỀ KHAI PHÁ QUAN ĐIỂM 1.
Giới thiệu Một phần quan trọng trong việc thu thập thông tin là luôn tìm ra “Nh ng i u ng i h c ngh ”. Khi bạn muốn mua một chiếc máy tính xách tay HP Pavilon DV6 bạn đặt ra các câu hỏi “Máy HP có tốt không? Dòng Pavilon của HP dùng thế nào? Pin dùng có lâu không?. Chính nhận xét của những ngƣời đã dùng máy tính HP sẽ là câu trả lời cho các câu hỏi mà bạn thắc mắc [5]. Theo cuộc khảo sát hơn 2000 ngƣời Mỹ trƣởng thành cho thấy 81 ngƣời dùng Internet (chiếm tỷ lệ 60 ngƣời Mỹ) đã thực hiện việc tìm hiểu về một sản phẩm thông qua Internet.
Có từ 73 đến 87 số ngƣời nói r ng các nhận xét về sản phẩm có sự ảnh hƣởng quan trọng đến việc lựa chọn mua sản phẩm của họ [5]. Nhƣ vậy, quan điểm của ngƣời khác giúp chúng ta có thêm thông tin khi quyết định một vấn đề, nó ảnh hƣởng rất lớn đến hành vi của chúng ta. Bất cứ khi nào chúng ta phải đƣa ra một quyết định, chúng ta thƣờng phải tham khảo những ý kiến của những ngƣời khác. Với cá nhân, chúng ta tham khảo từ gia đình và bạn bè.
Với tổ chức, họ tổ chức các cuộc điều tra, thăm dò dƣ luận để nắm bắt đƣợc ý kiến. Sự bùng nổ của nền tảng Web 2.0 nhƣ blog, di n đàn thảo luận, mạng ngang hàng, và nhiều loại truyền thông xã hội khác giúp cho ngƣời tiêu dùng có thể d dàng chia s kinh nghiệm và quan điểm về bất kì sản phẩm hoặc dịch vụ nào. Với sự phong phú của các nguồn tài nguyên về quan điểm, việc sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm và hiểu đƣợc ý kiến của con ngƣời là một cơ hội và thách thức rất lớn. Khai phá quan điểm là lĩnh vực nghiên cứu mà cố gắng để làm cho hệ thống tự động xác định quan điểm của con ngƣời từ văn bản đƣợc viết b ng ngôn ngữ tự nhiên.
Khai phá quan điểm nghiên cứu về ý kiến, tình cảm, quan niệm chủ quan, đánh giá, thái độ, thẩm định, cảm xúc… đƣợc thể hiện trong văn bản. Những điều đó đƣợc thể hiện qua các nhận xét, blog, các cuộc thảo luận, tin tức, bình luận, phản hồi… hay các tài liệu khác [5]. Khai phá quan điểm dựa trên ngôn ngữ tính toán, truy vấn thông tin, khai thác văn bản, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, học máy, thống kê và phân tích dự đoán. Các khái niệm trong khai phá quan điểm Liu [4] đƣa ra định nghĩa quan điểm: Một quan iểm bao gồm 5 yếu tố (ei, aij, sijkl, hk, tl) trong ó ei là tên của chủ thể, aij là ặc tr ng của ei, sijkl là quan iểm v ặc tr ng aij của ei, hk là nguồn của quan iểm và tl là th i iểm mà quan iểm ó ợc biểu ạt bởi hk.
Quan iểm sijkl có thể tích cực, tiêu cực, trung lập hoặc biểu diễn bởi thang nh gi. Một quan iểm nhận xét v sản phẩm iPhone trên Blog Ví dụ: Một quan điểm về điện thoại iPhone trên Blog nhƣ trong Hình 1.1 đƣợc biểu di n dƣới một số bộ năm nhƣ sau: (iPhone, GENERAL , + , Abc123 , 5-1-2008) (iPhone, touch_screen, +, Abc123, 5-1-2008) (iPhone, voice_quality, +, Abc123, 5-1-2008) (Blackberry, keys, -, Abc123, 5-1-2008) Theo Bing Liu [2], các quan điểm có thể thể hiện về bất cứ điều gì, ví dụ nhƣ một sản phẩm, một cá nhân, một tổ chức, một chủ đề… Ông sử dụng thuật ngữ đối tƣợng (Object) để biểu thị các chủ thể đƣợc đề cập.Theo đó, ông đƣa ra một số khái niệm trong khai phá quan điểm bao gồm: Đối tƣợng, các đặc trƣng, đoạn đánh giá, quan điểm, ngƣời đánh giá. Đối tƣợng Dùng để chỉ thực thể (ngƣời, sản phẩm, sự kiện, chủ đề, …) đƣợc đánh giá. Mỗi đối tƣợng có một tập các thành phần (components) hay thuộc tính (attributes) gọi chung là các đặc trƣng (features).
Mỗi thành phần hay thuộc tính lại có một tập các thành phần hay thuộc tính con. Nhƣ vậy, một đối tƣợng O đƣợc biểu di n bởi một cặp [T, A] trong đó T là một cấu trúc phân cấp thành phần cha, thành phần con, A là tập các thuộc tính của đối tƣợng O [3]. Ví dụ: Máy ảnh có một tập thành phân: ống kính, pin và các thuộc tính: kích cỡ, khối lƣợng, chất lƣợng ảnh. Thành phần pin có các thuộc tính con: kích cỡ, thời gian….
Theo định nghĩa này, một đối tƣợng có thể biểu di n nhƣ một cây phân cấp. Gốc của cây chính là đối tƣợng đó, mỗi node không phải gốc là một thành phần hoặc thành phần con của đối tƣợng, mỗi cạnh chỉ một quan hệ part-of. Mỗi node đƣợc gán một tập các thuộc tính, mỗi quan điểm có thể biểu di n thông qua một node bất kỳ và các thuộc tính của node đó. Đoạn đánh giá Gọi một tài liệu quan điểm là d, trong trƣờng hợp tổng quát nhất, d bao gồm một tập các câu tuần tự d = {s1, s2, … sm}.Đoạn đánh giá về một đặc trƣng f của đối tƣợng O trong d là một tập các câu liên tiếp trong d di n tả quan điểm tích cực hay tiêu cực về đặc trƣng f.
Đoạn đánh giá bao gồm tối thiểu ít nhất một câu có thể biểu di n quan điểm về một đối tƣợng hoặc thuộc tính của đối tƣợng. Ngoài ra, một câu đơn cũng có thể biểu di n quan điểm trên một hoặc nhiều đặc đặc trƣng. Ví dụ: “Chất l ợng âm thanh của chiếc iện thoại này tốt, nh ng tuổi thọ pin lại ngắn”. Các đặc trƣng Nếu một đặc trƣng f hoặc bất kì từ đồng nghĩa nào với nó xuất hiện trong câu s, thì f là đặc trƣng hiện (Explicit feature) trong s.
Ngƣợc lại, ta nói f là đặc trƣng ẩn (Implicit feature) [3]. Ví dụ: Máy ảnh này đắt quá: Đặc trƣng “giá” là đặc trƣng ẩn. Màu sắc của chiếc áo này đẹp ghê: Đặc trƣng màu sắc là đặc trƣng hiện. Ngƣời đƣa ra quan điểm Ngƣời đƣa ra quan điểm (Opinion holder) là ngƣời hoặc tổ chức thể hiện quan điểm.
Ngƣời đƣa ra quan điểm còn gọi là nguồn của quan điểm. Trong trƣờng hợp đánh giá sản phẩm, di n đàn, blog thì ngƣời đƣa ra quan điểm thƣờng là các tác giả của đánh giá hay bài viết đó [3]. Ví dụ: “John bày tỏ sự bất ồng ý kiến của mình v hiệp ớc”. Ngƣời đƣa ra quan điểm là “John”.
Quan điểm Một quan điểm trên một đặc trƣng f là một nhận xét, thái độ, cảm xúc hay sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực trên đặc trƣng f từ một ngƣời đƣa ra quan điểm. Chiều hƣớng của một quan điểm trên đặc trƣng f có thể là tích cực, tiêu cực hoặc trung lập. Quan điểm hiện (explicit opinion) là một câu thể hiện quan điểm mang tính chủ quan, di n trả trực tiếp quan điểm tích cực hay tiêu cực của tác giả. Quan điểm ẩn (implicit opinion) về một đặc trƣng f là câu thể hiện quan điểm tích cực hay tiêu cực một cách không tƣờng minh [3].
Các thách thức trong khai phá quan điểm 1. Phong cách viết khác nhau Thực tế, các bình luận hay quan điểm nhập vào bởi những ngƣời khác nhau thì họ có cách viết khác nhau, từ cách thức sử dụng ngôn ngữ, chữ viết tắt và kiến thức của họ là một thách thức riêng của mỗi ngƣời. Mọi ngƣời đều không bày tỏ ý kiến theo cùng một cách. Ngƣời ta có thể sử dụng các thuật ngữ trong một câu tiêu đề xuất hiện trên một tờ báo trực tuyến và xuất hiện trong một di n đàn trực tuyến là rất khác nhau (điều này phụ thuộc vào bối cảnh mà quan điểm đó đƣợc thể hiện).
Trên thực tế, hầu hết trong xử lý văn bản truyền thống thì sự khác biệt nhỏ giữa hai phần của văn bản không thay đổi ý nghĩa nhiều. Tuy nhiên trong khai phá quan điểm, "bộ phim hay" là rất khác với "bộ phim không hay" [22]. Quan điểm thay đổi theo thời gian Một thách thức khác cần phải xét đến là vấn đề làm thế nào để có thể theo dõi các quan điểm thay đổi theo thời gian. Tâm trạng của một ngƣời nào đó có thể thay đổi nhƣng điều đó không nhất thiết r ng quan điểm về một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định sẽ thay đổi theo.
Nếu một sản phẩm cải thiện sau một thời gian có thể là vì nhiều ngƣời đang hài lòng với nó và vì họ có thể bị thuyết phục sau một cuộc thảo luận dài trong một di n đàn về sản phẩm [22]. Độ mạnh của quan điểm Xác định độ mạnh của một quan điểm là một thách thức phải đối mặt trong khai phá quan điểm. Nhiều nỗ lực đã đƣợc thực hiện để xác định các yếu tố quyết định sức mạnh của một ý kiến trong một bối cảnh. Bổ sung thêm việc phân lớp các từ thành các mức độ xu hƣớng quan điểm khác nhau, một số từ bổ nghĩa có thể đƣợc dùng để xác định độ mạnh của quan điểm(“rất”, “một chút”, “hết sức”, “hơi”…).
Cụm từ “rất hài lòng” và “hơi hài lòng” sẽ đƣợc phân lớp thành rất tích cực và kém tích cực nếu “rất” và “hơi” đƣợc phân tích và sử dụng để xác định mức độ đối lập [22]. Các câu với đánh giá pha trộn Một thách thức lớn đối với khai phá quan điểm xuất hiện khi mọi ngƣời thể hiện đánh giá tích cực và tiêu cực trong cùng một câu. Điều này chủ yếu là kết quả khi mọi ngƣời đang giao tiếp thông qua các phƣơng tiện truyền thông không nghi thức nhƣ blog và các di n đàn. Mọi ngƣời có nhiều ý kiến khác nhau trong cùng một câu.
Những câu nhƣ vậy có thể gây khó khăn để phân tích cú pháp hoặc khai phá quan điểm [22].